Archive for Tháng Tư, 2011

PR và Báo chí -Bạn hay thù?

PR và báo chí
Bạn hay thù?
Trần Ngọc Châu

Bình thường các công ty không ưa báo chí, nhưng khi gặp khủng hoảng họ sẽ cần đến sự hỗ trợ của giới truyền thông.

Bạn

Tại cuộc trao đổi hàng tuần giữa cơ quan quản lí báo chí tp.HCM (Ban Tuyên giáo, Sở Thông tin truyền thông) ngày thứ sáu 20/8/2010, ông Trần Trọng Dũng, phó tổng biên tập báo Công An thành phố HCM có đặt vấn đề về “phát ngôn nhân cho vụ khủng hoảng Vinashin.” Thật ra khi Vinashin, tổng công ty đóng tàu lớn nhất Việt Nam, lâm vào khủng hoảng tài chính, chính phủ đã thành lập một ban “đặc nhiệm chống khủng hoảng” (task force) cho công ty này, trong đó bao gồm đại diện Bộ Thông Tin Truyền Thông. Điều đó cho thấy vai trò của phát ngôn nhân cho vụ khủng hoảng không ai khác hơn là “đại diện Bộ Thông Tin Truyền Thông” trong ban đặc nhiệm. Nếu chúng ta nhận thức rằng “chống khủng hoảng” hay “quản trị khủng hoảng” (crisis management) chính là quản trị truyền thông thì vai trò của phát ngôn nhân cho bất kì vụ khủng hoảng nào cũng là vai trò chính. Một thông tin sai hay không chính thức về khủng hoảng có thể làm sụp đổ toàn bộ nỗ lực “tối thiểu hóa những thiệt hại” do khủng hoảng gây ra.

Hai năm qua (đầu năm 2008 đến tháng 6/2010) một trong những từ được nhắc nhiều nhất trên báo chí là từ “khủng hoảng” (crisis).
Và chính trong khủng hoảng lại nổi lên vấn đề : nhà báo là bạn hay thù trong các mối quan hệ truyền thông của các công ty kinh doanh.Các nghiên cứu về giao tiếp khi khủng hoảng thường mô tả giới truyền thông như một định chế cần kiểm soát, bởi lẽ nó có thể ảnh hưởng sâu sắc đến cách hiểu hoặc trải nghiệm một cuộc khủng hoảng của mỗi cá nhân ((Heath & Millar, 2004). Nhà nghiên cứu Evans (1987) còn cho rằng để tránh những sai lệch trong việc truyền tải thông điệp đến công chúng, đại diện của một công ty phải kiểm soát giới truyền thông. Vụ bắt một nhà báo gần đây (13/10/2010) cũng nói lên việc công ty muốn kiểm soát truyền thông, nhưng lại bằng…tiền và cả hai bên (nhà báo và công ty) đều có khả năng vi phạm pháp luật.
Do giới truyền thông đưa tin 24/24, các cuộc khủng hoảng được cập nhật nhanh chóng. Trái với quan điểm của nhiều nhân viên PR (quan hệ công chúng), các cuộc khủng hoảng, dù rất hấp dẫn độc giả, không phải lúc nào cũng bị làm quá lên. “Khi đến hiện trường, phóng viên thường gia nhập đội ngũ cảnh sát, lính cứu hỏa, nhân viên y tế và những ai được huấn luyện và trang bị để ứng phó với khủng hoảng” (Simpson & Cote, 2006, trang 71). Giới truyền thông có mặt để tường thuật sự việc. “Ở giai đoạn đầu của khủng hoảng, người dân muốn được thông tin – ngay lập tức. Họ muốn biết một cách kịp thời và chính xác điều gì đã xảy ra, ở đâu, và các bên liên quan đang ứng phó ra sao.” (Reynolds, 2002, trang 8). Thông thường, giới truyền thông đăng tải những thông tin này, cho dù các bên liên quan có chấp nhận hay không.

Thù
Chính vì vậy mà lãnh đạo của các công ty gặp khủng hoảng thường xem phóng viên như “con chó săn” luôn sẵn sàng vồ lấy họ.
Tháng 6/2009, khi công ty Tân Hiệp Phát rơi vào cuộc khủng hoảng “hương liệu quá hạn”, chính ông Tổng giám đốc công ty này đã bất ngờ thốt lên:”Tại sao báo chí quan tâm làm chi?” (Pháp Luật TP.HCM ngày11/6/2010). Truyền thông trở thành kẻ thù. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng giới lãnh đạo doanh nghiep không nên coi phóng viên là kẻ thù, mà xem đó là những bộ lọc thông tin trước khi nó đến với những người quan tâm.

Do giới truyền thông cung cấp những thông tin có tính định hướng đối với những ai có liên quan, phóng viên trở thành một phần của quá trình ứng phó với khủng hoảng, chứ không phải một bộ lọc mà các thông điệp bị kiểm soát phải đi qua. Ví dụ trong cuộc khủng hoảng của ngân hang ACB tháng 10/2003, các nhà báo đã tham gia vào quá trình giải quyết khủng hoảng một cách tích cực, kể cả tham gia vào các cuộc họp của nhóm giải quyết khủng hoảng mà hạt nhân là thống đốc ngân hàng nhà nước (thời điểm đó là ông Lê Đức Thúy).

Thiết lập quan hệ đối tác
Để giảm thiệt hại, một công ty cần có sự tương tác hiệu quả với giới truyền thông.
Sự kiện sụp các nhịp dẫn cầu Cần Thơ (cây cầu vừa được khánh thành ngày 29/4/2010) năm 2007 gây cái chết thương tâm cho 55 thợ xây cầu, đã được báo chí thông tin và kêu gọi đóng góp đến nỗi nhiều tổ chức từ thiện không tiếp nhận hết đồ cứu trợ; đồng thời một lượng máu hiến tặng đã cao hơn gấp 3 so với bình thường.
Ngành truyền thông đã cung cấp những thông tin cần thiết về tai nạn này, cũng như tình trạng giao thông ở khu vực xung quanh, nhằm giúp những người cứu hộ và dân chúng có cách xử lý thích hợp. Các tờ báo còn hợp tác nhằm đảm bảo các lời cảnh báo và biện pháp ứng phó được tường thuật chính xác, qua đó giúp hạn chế thương vong và giảm thiểu sự hỗn độn. “Bình thường, phóng viên không xen vào việc của nhau…Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp này, hầu hết đều giúp đỡ nhau để đưa thông tin kịp thời nhất”
Vụ khủng hoảng ngân hàng Á Châu ACB năm 2003 cũng là một thí dụ khá điển hình cho vai trò tích cực của truyền thông trong khủng hoảng.
***
Như vậy, nếu các công ty chú ý về PR hay quan hệ với truyền thông thì họ nên tiếp cận theo hướng giới truyền thông là đối tác, là bạn, ngay khi công ty chưa gặp khủng hoảng. Các nhà báo cũng cần PR của các công ty như “nguồn tin tin cậy”, những đối tác thông tin cần thiết, và giữ mối quan hệ đáng mơ ước này như Thomas Friedman, tác giả của cuốn “Thế giới phẳng” từng viết:” “Nếu không nhìn thấy những mối quan hệ thì sẽ không nhìn thấy thế giới. Ước gì tôi có thể hiểu được điều này khi tôi mới bước chân vào nghề báo.” Tất nhiên mối quan hệ phải được xây dựng trên tính chuyên nghiệp của cả hai bên. Nếu không, nó sẽ dẫn tới những “thảm kịch” như mua chuộc từ phía công ty và tống tiền từ phía nhà báo như chúng ta vẫn thấy…

Tháng 10/2010
TNC

Tháng Tư 18, 2011 at 4:59 sáng Để lại phản hồi

PR và báo chi-Báo chí kinh tế không phải PR

PR và báo chí
  Báo kinh tế không phải để… PR.
Trần Ngọc Châu

Hai mặt của một đồng xu
Một cuộc họp báo hạn chế với vài phóng viên được xem là “phóng viên kinh tế”. Tại sao hạn chế? Có lẽ những người tổ chức cuộc họp báo không muốn nghe nhiều câu hỏi từ nhà báo mà chỉ muốn cung cấp thông tin “giải độc” liên quan đến một vụ án kinh tế nghiêm trọng của một ngân hàng nhà nước và một công ty tư nhân. Thời gian đã phủ một lớp bụi lên sự kiện này, nhưng sẽ là một bài học cho những người yêu thích viết về kinh tế: Hầu hết các phóng viên dự cuộc họp vào năm 2002 này đã bị phê bình hoặc bị kỷ luật, có người đã “giã từ vũ khí”, không viết về kinh tế nữa. Tất nhiên, tiêu cực trong giới nhà báo kinh tế ở đâu cũng có.Vào những năm 20 của thế kỷ trước, nhiều phóng viên của Wall Street Journal đã nhận tiền hối lộ của các nhà đầu tư để viết có lợi cho các cổ phiếu nào đó. Vụ bê bối của nhà báo chứng khoán bị phanh phui tại cuộc điều trần của Quốc hội Mỹ vào năm 1932.
Tuy vậy,đó cũng chỉ là một mặt của đồng xu. Lịch sử báo chí thế giới và báo chí Việt Nam không thể nào viết đủ về các nhà báo chống những tiêu cực liên quan đến kinh tế, trong đó chống tham nhũng luôn đứng hàng đầu. Cách đây mấy năm vụ nhà báo Lan Anh (báo Tuổi Trẻ) viết về tiêu cực trong mua bán thuốc tây cũng là một ví dụ. Từ năm 1902, tờ McClure của Mỹ đã đăng loại bài chống tham nhũng trong chính quyền Mỹ với tựa “ Nỗi ô nhục của các thành phố”, khiến tờ này phải đóng cửa vì bị bao vây tài chính sau 19 số báo.
Báo kinh tế không phải PR
Viết báo kinh tế không phải là viết PR. Vào năm 1914, gia đình tỉ phú Rocketfeller đã thuê nhà báo Ivy Lee làm các chiến dịch “PR”, thay đổi công luận về những người bị chết trong các cuộc biểu tình của công nhân khai thác mỏ ở Colorado. Như vậy, ngay từ những năm đầu thế kỷ 20, báo chí đã bị lôi cuốn vào các chiến dịch PR của các công ty, với mong muốn làm thay đổi công luận theo hướng có lợi cho các công ty.
Thật ra sức lan tỏa của báo chí kinh tế mạnh và rộng hơn thực chất của nền kinh tế.Ví dụ: tăng trưởng GDP Việt Nam là 6,5%, thì đối với báo chí kinh tế nó không đơn thuần là tỉ lệ so sánh giữa năm sau và năm trước… Sức lan tỏa này sẽ tác động trở lại qua các “tầng lọc”: nghiên cứu và chính sách, để rồi tăng thêm giá trị cho nền kinh tế như sự minh bạch và bền vững.
Ma trận lan tỏa của báo chí kinh tế:

Trong hạn chế của bài này, chúng tôi chỉ muốn khẳng định báo chí kinh tế đã có một lịch sử lâu dài, gắn chặt với phát triển của nền kinh tế thị trường. Năm 1568 gia đình Fugger xuất bản một bản tin thông báo cho khách hàng về các tin tức có thể tác động vào các nền kinh tế Âu châu. Các bản tin này được xem là tờ báo kinh tế đầu tiên trong lịch sử báo chí kinh tế phương Tây.
Thiếu một nhật báo kinh tế…đủ mạnh
Chúng tôi không có đủ tài liệu nói riêng về báo chí kinh tế Việt Nam. Nhưng sau 1986, chúng ta chính thức mở ra kỷ nguyên kinh tế thị trường thì báo chí kinh tế Việt Nam bắt đầu viết theo những chuẩn mực mới. Ví dụ chúng ta đã không viết “lấy được” theo kiểu: xuất khẩu …triệu đôla-rúp (một đơn vị tiền tệ làm các nhà báo kinh tế thế giới từng điên đầu). Hay dùng các từ ngữ ác cảm với giới thương mại tư. Từ năm 1991, tại trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam, tờ Thời Báo Kinh tế Sài gòn ra đời, được xem như tuần báo kinh tế đầu tiên của thành phố HCM, sau khi đất nước thống nhất năm 1975. Xét về báo chí kinh tế, chúng ta rất lạc hậu so với thế giới. Những năm 1700 cả báo chí Anh và báo chí các thuộc địa Mỹ bắt đầu đăng thông tin về “tàu đến tàu đi”, với lịch , cảng đến, cảng đi và hàng hóa. Mãi đến năm 1991 (gần 3 thế kỷ sau), Thời Báo Kinh tế Sài gòn mới mở mục “tàu đến, tàu đi” đăng các loại hàng hóa xuất-nhập qua cảng. Nguồn chính thức lấy từ các báo cáo của Hải quan. Mục này là một trong những mục ưa thích của bạn đọc tờ báo, nhưng cũng gặp nhiều rào cản vì tâm lí “cái gì dính đến số liệu đều bí mật.” Hải quan thành phố HCM đã ngưng cung cấp số liệu này một thời gian, sau đó phải nhờ đến sự can thiệp của UBNDTPHCM, nguồn thẩm quyền (cơ quan Hải Quan) mới tiếp tục cung cấp thông tin hữu ích này.
Sau đó nhiều tờ tuần báo kinh tế nối tiếp xuất hiện như: Thời Báo Kinh tế Việt Nam, Đầu tư, Nhịp cầu đầu tư, Doanh nhân Sài gòn…Tuy nhiên, điều đáng tiếc là chúng ta vẫn chưa có một nhật báo kinh tế đủ mạnh để phản ảnh chuyển động kinh tế hàng ngày của một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam. Các chuyên trang kinh tế hay chứng khoán của các nhật báo thời sự không đủ tập trung cho lãnh vực vừa đòi hỏi chuyên môn, vừa phải đáp ứng tính hấp dẫn này.
Nói tóm lại chúng ta cần một diễn đàn thật sự (hay một nguồn đáng tin cậy nói theo thuật ngữ báo chí) về thông tin kinh tế, ở đó trước hết mọi khái niệm về kinh tế phải minh bạch thì mới mong thực tiễn minh bạch được. Báo kinh tế không phải báo PR như nhiều người nghĩ.Theo chúng tôi biết, vài nhật báo đã “bán trang” theo nghĩa đen, để làm PR(thường gọi là “thông tin kinh tế”), là một “hạ chuẩn” về nghề nghiệp.
TNC

[1] Jacob Fugger (1459-1525),  nhà buôn vải người Đức, từ một công ty gia đình phát triển thành công ty cổ phần, và thành lập ngân hàng, đồng thời phát hành bản tin về giá cả, là tiêu biểu của những nhà tư bản đầu tiên. Đọc thêm: www.bizjournalismhistory.org/

[1] Hầu hết các tờ báo kinh tế này đều có ấn bản tiếng Anh, mặc dù nội dung có thay đổi cho phù hợp với người đọc ngoại quốc.

[1] Thật ra trước đây có tờ nhật báo “Con thoi” và sau đó  là “Thương mại”, nhưng “chưa đủ mạnh”, ít nhất về số lượng báo phát hành.

Tháng Tư 17, 2011 at 9:18 sáng Để lại phản hồi

PR và Báo chí-Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

thap caroll

PR và báo chí

CSR và báo chí

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp  gọi tắt theo thuật ngữ tiếng Anh là CSR (corporate social responsibility) là một trong những thuộc tính phải có của mô hình kinh doanh hiện đại.Báo chí hiện đại không chỉ cổ vũ mà còn thực hiện nghĩa vụ CSR.

 

Trần  Ngọc Châu

Nghề làm báo là nghề nói lên sự thật vì vậy trách nhiệm xã hội của nhà báo là “chuyện đương nhiên”, xét về cả lí thuyết và thực tiễn. Còn đối với doanh nghiệp thì “trách nhiệm xã hội” thường được coi là “nhiệm í”.Trên thực tế, nhà báo thường coi hoạt động mang tính “trách nhiệm xã hội” của doanh nghiệp như xây nhà tình nghĩa…,cứu trợ nạn nhân thiên tai v.v…là những “sự kiện có giá trị tin tức” nói nôm na là thuộc “chuyện lạ” có thể thu hút quan tâm của công chúng.

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là gì?

Như vậy, có phải doanh nghiệp chỉ thỉnh thoảng làm từ thiện, tặng nhà tình thương, nhà tình nghĩa hay cứu trợ nạn nhân thiên tai? Hay khi làm ăn có hiệu quả mới thể hiện trách nhiệm đó? Hay trách nhiệm đó được “hóa thân” trong tiền thuế mà doanh nghiệp đã đóng?

Không phải vậy-hoàn toàn không phải vậy!

Tổng giám đốc Pepsico Việt Nam đầu tiên là ông Phạm Phú Ngọc Trai có thể nói là một trong những nhà lãnh đạo doanh nghiệp đầu tiên thực hành và quảng bá mạnh mẽ nhất học thuyết CSR  ..  Ông cho biết công ty của ông thực hiện tiêu chí CSR dựa theo học thuyết tháp Caroll ( do giáo sư A.Caroll đại học Georgia đề xướng), gồm 4 mục tiêu phát triển bền vững cho doanh nghiệp. Ông còn là chủ nhiệm của chương trình truyền hình “Doanh nghiệp và xã hội” trên truyền hình kinh tế-tài chính FBNC của HTV.

Mô hình CSR của GS Archie B. Caroll hay “tháp Caroll”:

CRS của nhà báo

Trong thế giới hiện đại, các tổ chức báo chí cũng phải hoạt động như các công ty. Trên thực tế, báo chí tại Việt Nam trong nhiều thập kỉ qua đã thực thi rất hiệu quả những hoạt đông CSR mà thuật ngữ báo chí Việt Nam thường gọi là “hoạt động ngoài mặt báo”.

Nguồn lực của các hoạt động ngoài mặt báo này lớn nhỏ tùy theo độ tín nhiệm của tờ báo hay cơ quan báo chí hơn là nội dung của chương trình.

Bởi vi theo nghiên cứu của chúng tôi thì hầu hết các tờ báo tạm gọi là “lớn” (thường co số lượng phát hành trên 100.000 bản /ngày) đều co những hoạt động ngoài mặt báo, gây hiệu ứng tích cực đối với xã hội, đôi khi còn tích cực hơn cả thông tin trên mặt báo.

    CSR hay “hoạt động ngoài mặt báo”tiêu biểu  
  Tuổi Trẻ Vì ngày mai phát triển Học bổng
  Thanh Niên Duyên dáng Việt Nam Đại nhạc hội từ thiện : gây quỹ học bổng
  Sài gòn Giải phóng Nghĩa tình Trường Sơn Công tác xã hội
  Sài gòn Tiếp Thị Hàng Việt Nam chất lượng cao Giải thưởng và Hội chợ cỗ vũ phong trào « Người Việt dùng hàng Việt »
  Người Lao động Mai vàng Đại nhạc hội từ thiện
  Thời báo kinh tế Sài gòn Quỹ Saigon Times Học bổng
  Saigon Times Saigon Times Blood Donation Hiến máu
  VTV Cầu truyền hình « Vì người nghèo » Quỹ từ thiện, xóa đói  nghèo
  HTV « Ngôi nhà mơ ước » Chương trình truyền hình từ thiện

Có thể kể vai thí dụ: Chương trình “Hàng Việt Nam chất lượng cao” của báo Sài gòn Tiếp Thị, được công chúng biết đến nhiều hơn so với cái tên tờ báo (một khảo sát bỏ túi của chúng tôi thực hiện từ tháng 6/2006-tháng 6/2007 thì kết quả cho thấy tỉ lệ này là 10/7. Cứ 10 người trả lời biết HVNCLC thì chỉ co 7 người biết báo SGTT).Tỉ lệ nhận biết này còn cao hơn đối với chương trình “Duyên dáng Việt Nam” của báo Thanh Niên. Cứ 10 người trả lời biết DDVN thì chỉ co 3 người biết báo Thanh Niên.[i]

CSR của nhà báo và doanh nghiệp có phải là PR?

Ngày càng co nhiều liên kết giữa nhà báo và doanh nghiệp cho hoạt động CSR.

Xét về hệ quả , và hiểu PR theo nghĩa “quan hệ công chúng”, thì các chương trình rõ ràng tạo thêm uy tín của “thương hiệu” của cả hai đối tác: nhà báo và doanh nghiệp.

Tuy vậy, xét về mục tiêu, thì các chương trình không nhắm thẳng đến mục tiêu PR theo nghĩa xây dựng hay quảng bá thương hiệu.Tổng biên tập SGGP Trần Thế Tuyển nói với chúng tôi nhân chuyến đi Pleiku để trao một bệnh xá hợp tác giữa báo và công ty Pepsico:” Không hề co mục tiêu PR cho tờ báo trong chương trình này.Vai trò rõ ràng của báo chí chúng tôi chính là giám sát và cổ động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp mà thôi.”

Nhìn sang Trung quốc-một nước kinh tế chuyển đổi như Việt Nam- thì họ có làm dữ liệu và thông tin CSR trên báo chí. Ví dụ theo” Dữ liệu báo chí Trung Quốc “ năm 2006 thì tin tức về CSR trên các tờ báo chính ở Trung Quốc cao gấp 14, 2 lần so với năm 2000. Và năm 2006 thì tin tức “tiêu cực” về CSR cũng cao hơn nhiều so với 2000 như: lạm dụng công nhân ở công ty Foxcom, làm trứng vịt giả, dư lượng kháng sinh trong cá hồi xuất khẩu v.v…

Tai Việt Nam chúng ta, mới nhất báo chí đã đóng góp quan trọng trong vụ bồi thường của công ty Vedan vì đã hủy diệt nguồn lợi thiên nhiên trên sông Thị Vải.

Tuy vậy, điều quan trọng nhất là phổ biến li thuyết về CSR trong doanh nghiệp và công chúng, thậm chí phải được giảng dạy bắt buộc trong các giáo trình quản trị kinh doanh như các chương trình đào tạo MBA (thạc sĩ quản trị kinh doanh) trên thế giới hiện nay./.

TNC

Doanh nhân nói gì về “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp” (CSR):

Phạm Phú Ngọc Trai, nguyên TGĐ Pepsico Việt Nam: “CSR-Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đó không còn là những hành động thiện nguyện tự phát theo tiếng nói của lương tri hay những đóng góp theo phong trào nữa, mà nó đã là một phần chiến lược không thể tách rời của doanh nghiệp.”  

Diệp Quốc Kế, TGĐ Công ty Glowtec Environment:” Vai trò công ty ngày càng lớn và trách nhiệm đối với xã hội không chỉ là làm công tác xã hội.Đó là chiến lược dài hạn của công ty.”

Cao thị  Ngọc Dung, TGĐ Vàng bạc đá quí Phú Nhuận PNJ: “ Tạo lợi nhuận chỉ là một trong những nghĩa vụ của doanh nghiệp. Nếu duy tri một thương hiệu lớn như PNJ cái khó là làm sao thể hiện các nghĩa vụ khác như môi trường, xây dựng thế hệ lãnh đạo trẻ, tiết kiệm nguồn lực…”

Nguyễn Trịnh Khánh Linh, TGĐ Tổng công ty Đắc Nhân Tâm Dale Carnegie Việt Nam:” Chúng tôi được công nhận là một công ty toàn cầu nên trách nhiệm của chúng tôi mang các chuẩn giá trị toàn cầu như bảo vệ môi trường, văn hóa địa phương.”

Ảnh: Lễ khánh thành bệnh viện Ia Dom, Pleiku, trong chương trình “Nghĩa tình Trường Sơn” do báo SGGP và Pepsico phát động.


[i] Khảo sát này là cục bộ, người trả lời hạn chế trong số 100,thời gian lại không lâu: 1 tháng, trình độ và tuổi tác cũng điều kiện hóa trong các lớp CEO và sinh viên kinh tế, nên độ tin cậy không cao. Mặc dù vậy,nó khả dĩ cho phép sử dụng trong một bài báo mang tính phản ảnh thông tin (nhiều hơn là một báo cáo khoa học).

Tháng Tư 17, 2011 at 9:01 sáng Để lại phản hồi

PR và Báo chí- Xây dựng thương hiệu quốc gia

PR và báo chí

 

 Xây dựng thương hiệu quốc gia

Trần Ngọc Châu

 xay dung thuong hieu quoc gia

Trong cuộc hội thảo  về đề tài “Xây dựng thương hiệu quốc gia” (Nation Branding) do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển giáo dục Trí Việt phối hợp với Saigon Media tổ chức ngày 30/6/2010 tại thành phố HCM, bà Tôn Nữ Thị Ninh chủ trì hội thảo,có đặt câu hỏi về vai trò của báo chí Việt Nam trong công cuộc xây dựng thương hiệu quốc gia Việt Nam.

Nhà báo trước khi hành nghề đã là một công dân. Chính vì vậy mặc định ở đây: nghĩa vụ công dân đối với đất nước của nghề làm báo là chuyện không cần bàn cãi. Mặc định tiếp theo của nghề báo là “nghề nói lên sự thật”. Càng nói sự thật bao nhiêu báo chí sẽ càng góp phần vào việc xây dựng thương hiệu quốc gia.Đó cũng là PR của báo chí đối với quốc gia hay nói nôm na là “dân vận của báo chí.”

Báo chí: tác nhân xây dựng “thương hiệu”quốc gia

Một trong những mô hình phát triển đầu tiên của báo chí là tác nhân xây dựng “thương hiệu”quốc gia. Chính phủ Ấn độ đã thành lập và tài trợ cho Quỹ tài sản thương hiệu Ấn độ (India Brand Equity Foundation) mà nhiệm vụ chủ yếu là “giải độc” những tin tức có khả năng xấu đối với uy tín quốc gia. Ông Ajay Khanna, tổng giám đốc của tổ chức này, luôn nói với báo chí “nghề của tôi là nói những tin tốt đẹp về Ấn độ hàng ngày” và theo ông, đó là những phẩm chất lành mạnh sẽ tạo nhiều kết quả vô hình như thu hút khách du lịch hay đầu tư nước ngoài.[i]

Tuy vậy vai trò báo chí không chỉ nói tin tốt mà là nói sự thật. Simon Anholt[ii], nhà tư vấn hàng đầu thế giới (theo báo The Economist) về thương hiệu quốc gia, trong cuốn “Trật tự mới về thương hiệu” (Brand new justice-2003) thì nhấn mạnh vai trò báo chí của mỗi quốc gia là nói đúng về hình ảnh quốc gia đó. Lawrence Chalip, tổng biên tập tạp chí Quản trị thể thao (Sport Management Review), giáo sư đại học Texas (Hoa Kỳ) từng viết:”Môt thương hiệu về nơi chốn, địa phương hay quốc gia chỉ có thể tạo dựng bền vững trên sự thật. Nếu ở đó chỉ có một khách sạn, bạn khong thể “sáng tạo” 5 hay 6 khách sạn chỉ vì mục tiêu tạo dựng hình ảnh hay thương hiệu.”[iii]

Trong chiến lịch Tái xây dựng thương hiệu Nigeria (Rebranding Nigeria), chính phủ Nigeria đã kêu gọi giới truyền thông trong nước đưa nhiều hơn những cái đẹp của quốc gia, ít nhất cũng cân bằng về số lượng với những tin tức về tham nhũng, hối lộ, chiến tranh sắc tộc, tệ nạn…

Nhà báo và nhà nghiên cứu báo chí Arturo Escobar(1995) đã cho rằng các lý thuyết về hiện đại hóa  quốc gia là người biện minh chính cho các quá trình phát triển và cách tiếp cận “ tác nhân xây dựng thương hiệu hay hình ảnh quốc gia ” của giới truyền thông. Cách “tiếp cận hiện đại hóa” này, thật ra, không mới. Nó đã được phát triển mạnh trong thời kỳ đệ nhị thế chiến bởi các học giả như Daniel Lerner( 1958), Lucien Pye(1963), Walter Rostow(1960) và Wilbur Schramm(1964).

Báo chí:Tác nhân đòan kết

Việt Nam có một lịch sử khắc nghiệt với 1000 năm chống ngoại xâm phương Bắc, 100 năm thuộc địa của Pháp và cuộc chiến thống nhất đất nước  hơn 20 năm. Vai trò của báo chí-truyền thông lại nặng hơn khi được đòi hỏi trở thành một lực lượng đòan kết quốc gia chung quanh nhiệm vụ” tái xây dựng thương hiệu Việt Nam”. Chiến tranh cũng làm phân hóa nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội và báo chí sẽ là tác nhân chính hàn gắn những khoảng cách này dưới một lí tưởng chung là “đổi mới và hội nhập.”

Các nhà báo đã giúp vận động những người dân bình thường ủng hộ các đường lối chính trị và chiến lược kinh tế do chính phủ hay các cơ quan phát triển họach định nhân danh họ.Ví dụ các tờ báo thường xuyên đăng tải í kiến độc giả chung quanh các dự thảo luật như luật đất đai, luật thuế thu nhập cá nhân, hay các dự án lớn như dự án đường tàu cao tốc Bắc Nam, dự án xây nhà Quốc Hội…Các nhà báo cũng là những “con chim báo bão” cho những tai họa môi trường ví dụ gần đây báo chí đăng tải về những dự án “kiên cố hóa” trên những đồi thông Đà Lạt:Từng được ngợi ca là “thành phố mộng mơ”, “thành phố trong rừng”, “thành phố ngàn hoa”… một trong những “thiên đường du lịch” của Việt Nam với những rừng thông bạt ngàn xanh ngắt nhưng nay Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) đã không còn là chính mình và “thiên đường” này đang biến dạng thảm hại.” (Báo Người Lao động ngày 26/7/2010).

Sắp tới đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11, báo chí sẽ là diễn đàn rộng rãi để người đọc góp í vào các dự thảo đường lối phát triển đất nước.Khi đó, các nhà chính trị và nhà hoạch định chính sách sẽ phải tham khảo diễn đàn này, vì vậy trách nhiệm của nhà báo càng nặng nề hơn khi họ trở thành tác nhân làm cho í kiến các cá nhân đơn lẻ trong xã hội có khả năng cố kết thành một sức mạnh quốc gia.

Phóng sự điều tra “không tiêu cực”

Hầu hết các tổng biên tập mà chúng tôi có phỏng vấn đều khuyến khích viết các bài báo tích cực về các cá nhân,mà chúng ta thường gọi là” người tốt việc tốt”. Theo í kiến của đa số họ thì những bài báo thuộc loại này không phải chỉ là nêu gương mà còn đóng góp vào sự ổn định xã hội, xây dựng sự hòa đồng giữa các nhóm lợi ích đa dạng,củng cố kinh tế. Nhiều nhà báo Á Châu kỳ cựu (Octama,1989:145;Pudjomartoro,1998:105) cũng từng nhấn mạnh rằng những tin tích cực không lọai ra những phóng sự điều tra về các vấn đề xã hội, và các cuộc khủng hỏang,nhưng ”không giật gân , câu khách”.Theo luận điểm này, chúng ta không nên dùng cụm từ” bài báo chống tiêu cực” mà chỉ nên dừng lại ở thuật ngữ “phóng sự điều tra” mà thôi.Những bài báo hay tin tức như thế sẽ nhấn mạnh đến nguyên nhân dẫn đến vấn đề hay khủng hỏang (ví dụ: vụ tham nhũng tại PMU 18 năm 2005 chẳng hạn, nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế quản lí quỹ viện trợ phát triển) và liệt kê những giải pháp, nhờ vậy người đọc hay công chúng có thể hiểu và hành động một cách xây dựng để vượt qua khủng hỏang, hơn là chủ yếu tấn công vào các cá nhân. “Bức tranh lớn” cũng không kém quan trọng.Ví dụ: một nhà báo có tinh thần xây dựng thương hiệu quốc gia khi viết tin  về vụ bê bối của chủ tịch tỉnh Hà Giang[i] sẽ tránh gây hiểu lầm rằng đó là một vụ bê bối được cả bộ  máy bao che, mà chỉ là một sai lầm cá nhân.

Cựu thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore đã cụ thể hóa phương pháp này bằng tuyên bố rằng:trật tự còn quan trọng hơn dân chủ.Ông cho rằng dân chủ quá trớn sẽ dẫn đến mất trật tự và lộn xộn và đó là “kẻ thù” của phát triển (Lee K.Y.,1992:29). Tuy vậy, một khi đất nước đã phát triển rồi, “kẻ thù” đó không còn nữa, người ta buộc phải đòi hỏi một “thượng tầng kiến trúc” thích hợp hơn, nghĩa là dân chủ nhiều hơn.

Nếu báo chí là tác nhân chính tạo dựng thương hiệu quốc gia thì đến lúc báo chí phải là tấm gương phản ánh được bộ mặt dân chủ, qua í kiến của nhân dân và sự tiếp thu í kiến đó từ các cơ quan lãnh đạo quốc gia. Nếu không thương hiêu quốc gia đã dày công xây dựng cũng sẽ dần bị xói mòn.

T.N.C



[i] VNEXPRESS 25/7/2010

Doanh nhân nói về báo chí và thương hiệu quốc gia:

 

Ông Phạm Phú Ngọc Trai, cố vấn cao cấp PepsiCo Đông Nam Á


“Hình ảnh của quốc gia là cảm nhận tốt hay xấu của quốc gia. Báo chí góp phần không nhỏ vào cảm nhận đó.”

 

Ông Don Lam, tổng giám đốc Quỹ đầu tư Vinacapital:

“Khi chúng tôi kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào Việt Nam, họ thường cần những thông tin có hệ thống về Việt Nam. Đó là thương hiệu quốc gia. Truyền thông là cầu nối chính đưa ra thế giới hình ảnh đó.”

 

Ông Đặng Lê Nguyên Vũ, chủ tịch kiêm Tổng Giám Đốc tập đoàn Trung Nguyên:

“Thao thức của tôi không chỉ là kinh doanh mà còn làm sao tạo dựng một thương hiệu quốc gia Việt Nam hùng mạnh. Giới tinh hoa của Việt Nam sẽ đi đầu trong công cuộc xây dựng thương hiệu quốc gia gồm nhà chính trị, doanh nhân, học giả, trí thức và không thể thiếu giới truyền thông.”

 

Ông Phạm Uyên Nguyên, tổng giám đốc công ty quản lí Quỹ đầu tư Hợp Việt (Synergy Fund):

“ Một thương hiệu quốc gia uy tín phải được nhìn nhận về cách lưu chuyển dòng vốn ra thị trường thế giới. Tôi mơ tới các công ty đa quốc gia của Việt Nam. Báo chí có thể xây dưng thương hiệu quốc gia từ cách tiếp cận toàn cầu đó.”

 

 


[i] http://nation-branding.info/2009/02/25/branding-nigeria/: vui lòng đọc bài: Rebranding Nigeria

[ii] Simon Anholt, giám đốc công ty “Xây dựng thương hiệu địa lí”, một doanh nghiệp tư vấn cho các quốc gia, vùng, hay thành phố về các chiến lược thương hiệu vì mục đích phát triển kinh tế. The Economist mô tả ông là “nhà tư vấn hàng đầu thế giới cho các công ty và chính phủ muốn xây dựng các thương hiệu toàn cầu.”

[iii]  www.utexas.edu/features/2010/04/26/sport_tourism/: bài Wish you were here.

Tháng Tư 16, 2011 at 2:44 sáng Để lại phản hồi

PR và báo chí-Vòng xoáy im lặng

PR và báo chí

 Vòng xoáy im lặng

Trần Ngọc Châu

 

Tại sao doanh nhân sợ báo chí?

Nhà báo Kim Ngọc, phó tổng biên tập tạp chí Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương, nói tại cuộc gặp báo chí do một công ty tổ chức mừng 85 năm ngày báo chí cách mạng Việt Nam hôm 16.6.2010 tại thành phố HCM, rằng: nhà báo chúng ta còn “chưa công bằng” với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp dân doanh (ông tránh dùng chữ “tư nhân”).

Ghét và cần

Nhưng để viết được những bài báo công bằng đó, việc đầu tiên là các doanh nghiệp phải cởi mở thông tin với phóng viên. Trên thực tế doanh nghiệp-nhất là doanh nghiệp tư nhân-rất ngại tiếp xúc với nhà báo.Nhiều nhà báo trẻ thường hỏi chúng tôi rằng: làm sao tiếp cận được doanh nhân vì đa số họ không thích báo chí?

Có phải doanh nghiệp không cần báo chí?

Trong cuốn “Sức mạnh của tin tức” , nhà báo và giáo sư Michael Schudson giả định một ngày nào đó báo chí biến mất thì cái gì sẽ xảy ra?[i] Liệu truyền thông xã hội có thể thay thế báo chí không? Các công ty có thể tự mình ra báo để tự tiếp thị, quảng báo về mình không?

Câu trả lời là KHÔNG. Cho dù các tập đoàn kinh doanh có thể sở hữu các phương tiện truyền thông riêng, họ vẫn phải cần tới báo chí chuyên nghiệp và độc lập.

Điều đơn giản là công chúng đã hình thành thói quen tin cậy báo chí chuyên nghiệp nhiều hơn là báo của công ty. Một tập đoàn xây cầu, cầu bị lún hay nứt, không thể tự giải thích trên tờ báo của chính mình. Hay một tổng công ty sản xuất nước giải khát nhưng bị phát hiện hương liệu quá hạn, công ty đó không thể chỉ tự giải thích trên báo, đài do mình bỏ vốn đầu tư.

Tại sao sợ báo chí ?

Warren Buffett sở hữu một tờ báo và làm chủ nhiệm trực tiếp điều hành một tờ khác, mới đây đã tỏ ‎ ra bực bội vì báo chí bóp méo thông tin trong bức thư ông gửi cổ đông.[ii]

Báo chí đã trích dẫn sai bức thư 12.830 từ của ông.Cụ thể câu này:” Ví dụ, chúng tôi tin rằng kinh tế sẽ còn khó khăn suốt năm 2009-và có lẽ còn kéo dài nữa-nhưng kết luận đó không nói rõ cho chúng ta là thị trường sẽ lên hay xuống…” .

Nhiều tờ báo đã trích phần đầu của câu này,nhưng cắt bỏ phần sau. Buffett cho rằng người đọc hay khán giả bị thông tin sai có thể nghĩ răng ông đã dự báo xấu về thị trường chứng khoán, trong khi sự thật là ông không hề có dự báo gì về thị trường cả. Những nhà đầu tư cả tin  vào báo chí lá cải đã trả giá đắt: Chỉ số Dow Jones từ 7.063 hôm công bố bức thư đã lên 10.428 vào cuối năm . Warren Buffet đã cố gắng cải chính, nhưng tiếng nói của ông không được nghe đầy đủ.Ông luôn thuộc về thiểu số so với “cái mồm vĩ đại” của giới truyền thông.

Mặc cảm thiểu số không phải chỉ có ở Buffett mà hầu hết các doanh nhân đều cảm thấy như thế. Chúng ta quay lại với lí thuyết “vòng xoáy im lặng” để giải thích hiện tượng này.

Vòng xoáy im lặng

Vòng xoáy im lặng (The spiral of silence) là lí thuyết về truyền thông do nhà nghiên cứu Đức Elisabeth Noelle-Neumann đưa ra vào thập niên 70. Bà cho rằng một người càng ít có khả năng có í kiến về một đề tài nào đó nếu người đó cảm thấy mình thuộc về thiểu số vì sợ bị trả thù hay bị cô lập bởi đa số còn lại.

Vòng xoáy của im lặng [iii]khởi đầu từ niềm sợ hãi bị trả thù hay bị cô lập và từ đó tăng dần lên. So ra như vậy, doanh nhân sợ báo chí cũng là dễ hiểu. Doanh nhân luôn cảm thấy mình thuộc về thiểu số, trong khi đó báo chí (hay truyền thông) là những định chế xã hội, đương nhiên thuộc về đa số. Tại Việt Nam báo chí của Đảng và nhà nước, , lại càng có sức mạnh đa số hơn. Vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi chúng ta vừa bước vào vận hội mới của kinh tế thị trường, báo chí chúng ta không tránh khỏi cực đoan khi nhìn thấy bất cứ giám đốc quốc doanh nào cũng có “tiêu cực”. Một giám đốc xí nghiệp nhà nước đã nói:” Mình cãi nhau với báo chí chẳng khác nào mình nhổ nước bọt lên trời. Họ ở trên, còn mình ở dưới mà.”

Chính vì vậy, sự chọn lựa tốt nhất của doanh nghiệp là im lặng và tránh né. Thái độ tiêu cực này cuối cùng chỉ gây thiệt hại cho cả đôi bên. Báo chí thì thiếu nguồn tin từ doanh nghiêp còn doanh nghiệp thì mất hẳn một kênh tiếp thị hiệu quả cho việc làm ăn.

Chúng ta cần có thời gian. Các nhà báo Việt Nam cần có thời gian để học cách viết báo kinh tế thị trường,còn các doanh nhân Việt Nam thì cũng cần có thời gian để học về vai trò của PR (quan hệ công chúng), trong đó có Media relations (quan hệ truyền thông) trong nền kinh doanh hiện đại. Chỉ có những chuẩn mực toàn cầu của nghề báo chuyên nghiệpnghề kinh doanh chuyên nghiệp mới giúp chúng ta thoát ra khỏi “vòng xoáy im lặng”, để nói lên tiếng nói chính trực và thông tin chuẩn xác vì sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước./.

Tháng 6/2010

Trần Ngọc Châu

(FBNC Television)


[i] Michael Schudson (2003):The power of news (Sức mạnh tin tức), Harvard University Press, London

[ii] Warren Buffett: Ngành báo chí quá tự mãn, ictnews.vn – 15-12-2009

[iii] Huang, Huiping. “A Cross-Cultural Test of the Spiral of Silence.” International Journal of Public Opinion Research 17.3 (2005)

Tháng Tư 16, 2011 at 2:30 sáng Để lại phản hồi

PR và báo chí- Ăn vào tương lai

Quan hệ giữa nhà báo và doanh nghiệp. Nên hay không nên kết thân với doanh nghiệp? Sử dụng hạ sách hay không khi đi tìm sự thật?

Trần Ngọc Châu

Phần lớn các giáo trình báo chí cho rằng nếu xây dựng mối quan hệ anh em với doanh nghiệp hay doanh nhân, báo chí có nguy cơ “ăn vào tương lai”. Tại sao? Vì hệ luận của mối quan hệ này không sớm thì muộn,cũng tạo ra một nền báo chí mất cân bằng (asymmetric). Tiến sĩ Michael Schudson, khoa báo chí trường đại học California ở San Diego cho rằng “tính khách quan” là một tiêu chuẩn không thay đổi của báo chí. Vì tính khách quan đó của sự thật mà nhà báo luôn cô đơn. Nhà báo càng phải tự mình cô lập khỏi sự thân thiết với những người có tiền (doanh nhân) và những người có quyền (nhà chính trị). Nhưng với nghề săn tin, liệu đây có phải là nghịch lí khi nhà báo phải lăn lộn vào thực tế để tìm ra sự thật? Các nhà báo có phải áp dụng triết lí “đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” hay không?

“Nhúng” vào doanh nghiệp

Thuật ngữ báo chí thời thượng là embedding (tức là “nhúng” nghĩa là các phóng viên “cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm” với thực tế hay nguồn tin) . Khi nền kinh tế bao cấp của chúng ta ở vào thời điểm chuyển đổi sang  giai đoạn đầu của kinh tế thị trường, nhiều nhà báo đã trở thành “bạn” hay “cố vấn” của doanh nghiệp. Công ty Minh Phụng là một thí dụ. Đó là một công ty may xuất khẩu có qui mô 5.000 công nhân. Nếu đi theo hướng chuyên ngành đó có lẽ họ đã yên ổn. Nhưng họ lại chuyển sang địa ốc-một ngành nhiều rủi ro nhưng có siêu lợi nhuận, đặc biệt vào thời điểm những năm 90, luật lệ của chúng ta còn rất bất cập và mơ hồ. Khi công ty vỡ nợ (thuật ngữ trên báo chí vào thời điểm đó là “mất khả năng chi trả”), người chủ của công ty là ông Tăng Minh Phụng chịu án tử hình. Vấn đề ở đây là liệu có nhà báo nào đã là bạn hay cố vấn cho ông? Trong “vương quốc của tin đồn” xuất hiện nhiều cái tên nhà báo. Mặc dù không có một công bố nào về vấn đề này, nhưng câu chuyện đã đưa đến kết luận: nhà báo, bất cứ lí do nào, cũng không được tư vấn hay có mối quan hệ thân thiện với doanh nghiệp.

Tốt hơn bạn nên giữ bàn tay sạch và theo phương châm “kính nghi viễn chi” trong quan hệ với doanh nghiệp. Vào ngày 31/5/2004, , tại Hội nghị quan hệ công chúng toàn cầu tổ chức tại Lousiana Hoa Kỳ, hai tác giả Jae-Hwa Shin và Glen T. Cameron kết luận rằng trong khi giao tiếp qua 11 hình thức quan hệ không chính thức[i] giữa doanh nghiệp và báo chí thì các nhà báo cảm thấy mặc cảm tội lỗi nhiều hơn so với các giám đốc PR của doanh nghiệp. 641 người bao gồm nhà báo và giám đốc công ty Hàn Quốc đã tham gia cuộc khảo sát này.

Sử dụng phương pháp phân tích hội tụ, hai tác giả đã khảo sát phản ứng của mỗi nhóm về khía cạnh đạo đức của từng loại quan hệ không chính thức, ví dụ: bạn cho rằng “nhận bì thư” tại các cuộc họp báo là chấp nhận hay không chấp nhận?

Cả hai nhóm ( nhà báo và giám đốc) đều có những phản ứng hết sức khác nhau. Nhóm các giám đốc doanh nghiệp đánh giá cao ảnh hưởng của các hình thức” quan hệ không chính thức” và cho rằng chúng không có vấn đề gì về đạo đức và có thể chấp nhận được. Trong khi đó, nhóm các nhà báo thì cho rằng khó chấp nhận các hình thức “quan hệ không chính thức” vì đã vi phạm đạo đức nhà báo.

Nhóm giám đốc doanh nghiệp hiểu lầm về đạo đức báo chí nhiều hơn là nhóm nhà báo hiểu lầm về đạo đức kinh doanh của giám đốc. Nghiên cứu này cho chúng ta thấy rằng ngay ở một nền báo chí cởi mở như Hàn quốc với các câu lạc bộ báo chí duy trì thường xuyên giao lưu giữa doanh nghiệp và nhà báo, thì suy nghĩ về đạo đức của hai giới này cũng rất khác nhau.

Ý kiến tương đồng giữa nhà báo và giám đốc

Nhà báo tự đánh giá

Nhà báo đánh giá giám đốc

GĐ đánh giá nhà báo

Ggd

               H1                                       H2

 

 

 

 

 

H1: khớp nhau giữa giám đốc đánh giá nhà báo và tự đánh giá của nhà báo.

H2: khớp nhau giữa nhà báo đánh giá giám đốc và tự đánh giá của giám đốc.

 

 

 

 

 

Bàn tay bẩn

Tuy vậy bạn hãy đọc qua ví dụ dưới đây (đăng trên báo mới.com ngày 30/3/2010):

“Năm 1992, sau rất nhiều năm làm việc và tích lũy kinh nghiệm, cùng với một số người bạn, Dương thành lập công ty  xây dựng Bích Quế Viên (Country Garden Holdings) và cho xây 4.000 căn biệt thự. Tuy nhiên, một năm sau, thị trường đất đai của Hồng Kông vừa trải qua cơn sốt đất, nên trong 4.000 căn hộ được xây dựng, Cty Bích Quế Viên của Dương Quốc Cường chỉ bán được 3 căn. Nguy cơ phá sản hiện hữu trước mắt Cty non trẻ.Không bó tay chờ chết, Dương mời một phóng viên của Tân Hoa Xã tới bàn hướng thoát khỏi cảnh tay trắng. Mô hình “Thành phố trường học” ra đời từ sau cuộc bàn bạc đó. Điều này đồng thời mang lại cho Cty Bích Quế Viên 390 triệu NDT!”

Phóng viên Tân Hoa Xã này (không nêu tên) liệu anh ta có được trả tiền để viết bài về “điển hình thành đạt “ hay trả công cho những ‎ í tưởng làm ăn của anh đóng góp với nhà tỉ phú?

Tại Thời Báo Kinh tế Sài gòn, chúng tôi thường khuyên phóng viên nên “la cà”, thậm chí cà phê hay nhậu với doanh nhân (thuật ngữ báo chí thế giới là”embedding”) để có những thông tin giá trị-những thông tin mà “những bàn tay bẩn” [ii] mới nắm bắt được. Đối với nhà báo, cốt lõi vẫn là sự thật. Anh phải được biết sự thật. Nguồn tin sẽ không nói hết sự thật cho anh nếu anh không trở nên tín cẩn với họ.

Thật ra ở đây nên tách hai vấn đề: một là thực hành luật pháp và thực hành đạo đức nhà báo.

Không ít án oan hay “tình ngay lí gian”. Nhà báo trước hết là một con người và một công dân. Anh ta (hay chị ta) phải tuân thủ pháp luật. Nếu một nhà báo bị chứng minh là “tư vấn cho doanh nghiệp” và sau đó doanh nghiệp bị chứng minh là “lừa đảo” thì đương nhiên nhà báo phải ra trước vành móng ngựa. Thật ra pháp luật và công lí không thể đã “gạn lọc” hết những người phạm luật-một việc mà đạo đức có thể làm được. Một nhà báo có thể bị tù vì nói lên sự thật, như vậy anh vẫn yên ổn với tòa án đạo đức của anh. Bạn nghe vậy chắc nghĩ rằng lập luận đó hoàn toàn vô nghĩa về mặt thực tế.Nhưng bạn nên nhớ rằng  nền tảng của mọi hành vi con người kể cả hành vi chuyên nghiệp của nhà báo chúng ta, cũng phải được điều khiển bởi bộ máy í thức. Một người điên dù giết người vẫn vô tội.

Không dùng hạ sách

Theo chúng tôi, đạo đức nhà báo hầu hết nằm trong phương pháp nắm bắt sự thật chứ không phải cách thức công bố sự thật. Nếu anh dùng phương pháp vô đạo đức (mang tính lừa mị) để lấy thông tin thì thông tin anh công bố cũng không đạo đức. Tất nhiên phải có giả định rằng còn rất nhiều phương pháp “chánh đạo” tiềm năng mà nhà báo chưa tận dụng hết. Ví dụ: năm 1989, nhóm phóng viên chính trị-xã hội báo Tuổi Trẻ phải giả dạng những khách ăn chơi vào ổ nhện Đường Sơn Quán để làm phóng sự điều tra các cán bộ tha hóa. Họ đã trở nên “người nhà” của chủ quán và đã đánh lừa bà để lấy cả album hình ảnh…Nếu xét theo khía cạnh chuyên nghiệp báo chí thì họ đã thành công khi tiếp cận sự thật trần trụi, và bài báo đã rất thuyết phục công chúng, gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh xã hội về đạo đức. Nhưng họ vẫn bị giới truyền thông và cả công chúng (nhiều năm sau)  “xét lại” vì phương pháp mà họ sử dụng trong trường hợp này là rất “hạ sách”, trong khi họ còn nhiều khả năng tiếp cận khác đứng đắn hơn (mất nhiều công sức và thời gian hơn, tất nhiên!).

Cuộc đấu tranh không ngừng về đạo đức của người làm báo chuyên nghiệp (ở ta rất nhiều người có thẻ hành nghề nhưng lại thiếu chuyên nghiệp) là đấu tranh giữa một bên là sự thật và một bên là cách nắm bắt sự thật.

Chúng ta phải hành nghề với triết lí “bàn tay bẩn” (theo nghĩa đen) thì mới có thể dấn mình vào thực tế mà moi ra sự thật.

Tuy vậy, không thể ngụy biện rằng “vì sự thật” mà tôi có thể hi sinh những chuẩn mực hành nghề. Công chúng có thể tung anh lên mây vì những thông tin mà anh công bố, anh có thể làm thay đổi nhận thức của công chúng về một vấn đề này hay vấn đề khác. Nhưng tất cả là ngắn hạn. Nếu sau này người ta biết rằng anh đã sử dụng phương pháp lừa mị, không ngay thẳng, thiếu chuyên nghiệp của nghề báo để lấy thông tin thì công chúng –vốn vô tình và thẳng thắn- sẽ hoài nghi và dẫn tới sụp đổ lòng tin về sự trung thực .

Nếu tác nghiệp bằng phương pháp hạ sách thì chẳng khác nào nhà báo đang ăn dần tương lai.

Quan hệ với doanh nghiệp đương nhiên phải có vì đó là nguồn tin của anh, nhưng anh vượt qua giới hạn đó , được hưởng lợi gián tiếp từ thông tin mà nhờ nghề báo anh có được,thì trước sau gì anh cũng bị hủy hoại tên tuổi và phải từ bỏ nghề báo-một trong những nghề gần nhất với tôn giáo như bậc thầy lí luận báo chí Bill Kovat đã viết trong tác phẩm “Các thành tố của nghề báo” (The elements of Journalism). [iii]

TNC

Tháng 5/2010


[i] 11hình thức quan hệ không chính thức với nhà báo:

  1. cổ phiếu ưu đãi
  2. mời cơm
  3. tham quan thực tế
  4. dự khai trương, động thổ
  5. việc làm cho người thân, bạn bè nhà báo
  6. tài trợ
  7. quảng cáo
  8. du lịch nước ngoài
  9. quà (lễ, tết…)
  10. thưởng
  11. bì thư họp báo

[ii] Những bàn tay bẩn (Les mains sales) là một vở kịch nổi tiếng của nhà văn (kiêm triết gia Pháp-chủ xướng trường phái triết học hiện sinh) Jean Paul Sartre nêu lên nghịch lí giữa giá trị đạo đức cá nhân và nghĩa vụ của tổ chức giao phó.

[iii] Bill Kovach (2001): “Journalism is the closest thing I have to a religion.”

Tháng Tư 16, 2011 at 1:36 sáng 1 comment

De cuong chuong trinh viet tin kinh te Khoa Bao chi Dai hoc KHXHNV

Đề cương môn viết tường thuật  kinh tế

TS Trần Ngọc Châu

6 buổi

         
-  Tổ chức ban kinh tế-  Công việc của phóng viên kinh tế

-  Tố chất cần có/cần của phóng viên kinh tế

-  Kiến thức phóng viên kinh tế

-  Cách thiết lập nguồn tin kinh tế

– Đạo đức nhà báo kinh tế

Buổi 116/4 Dẫn nhập, chia nhóm.Hướng dẫn phương pháp học tập,thực hành.

-Phân công làm việc nhóm.

_Kinh tế là gì? Tại sao tin kinh tế quan trọng? Tổ chức ban kinh tế tại các tòa soạn hay đài.

-Phân tích  theo SWOT của đội ngũ phóng viên kinh tế Việt Nam hiện nay.

Tài liệu tham khảo:10 thủ thuật viết tin kinh tế (Paul Hemp)

Các khái niệm cơ bản về kinh tế.NXB Tổng Hợp TP.HCM (2010)

Trần Ngọc Châu: Kinh tế lạm ghi (2011): bản thảo

Trần Ngọc Châu (2010): Báo chí kinh tế và PR (tạp chí Người Làm Báo)

-          Đề cuối khóa:Mỗi nhóm bắt đầu làm một bản tin kinh tế 4 trang A 3
-  Kỹ năng thu thập và xử lý thông tin kinh tế-  Kinh nghiệm tác nghiệp trong một số tình huống

Điểm nhấn toàn khóa : Cách  viết tin bài kinh tế viết tin bài kinh tế (báo in/phát thanh truyền hình/báo mạng)

Buối 223/4 Ma trận 2 K của tường thuật kinh tế.-Xây dựng nguồn tin kinh tế .

-Làm sao viết chính xác? (Phối kiểm)

Thầy Châu
Hướng dẫn : Làm việc nhóm và trình bày(lấy điểm giữa kỳ) 30%
Buổi 37/5 kĩ năng và thủ thuật  viết tin kinh tế Nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4Nhóm 1: -thuật ngữ

Nhóm 2: con số

Nhóm 3: con người

Nhóm 4: nguồn và phối kiểm nguồn tin

Điểm này sẽ lấy cho 30% giữa kỳ.
Buổi 414/5 Đi thực tế4 đơn vị:

1 ban kinh tế , 1 công ty, 1 cơ quan nghiên cứu kinh tế, 1 hoạt động kinh tế

Công ty Gỗ Đức Thành,  ban kinh ntế báo Thanh Niên, Viện quản trị tài chính, chợ Bến Thành (quan sát, hỏi người bán hàng, người đi chợ…, ban quản lí chợ)
Buổi 521/5 -Đúc kết chuyến đi thực tế-Nhận xét các tác phẩm của các nhóm (tính vào điểm cuối khóa). 4 nhóm trình bày
Buổi 628/5 Làm bài thi cuối khóa ở lớp.

Tháng Tư 16, 2011 at 1:20 sáng Để lại phản hồi


Lịch

Tháng Tư 2011
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 9   Tháng 1 »
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930  

Posts by Month

Posts by Category


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.