Archive for Tháng Tư 16, 2011

PR và Báo chí- Xây dựng thương hiệu quốc gia

PR và báo chí

 

 Xây dựng thương hiệu quốc gia

Trần Ngọc Châu

 xay dung thuong hieu quoc gia

Trong cuộc hội thảo  về đề tài “Xây dựng thương hiệu quốc gia” (Nation Branding) do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển giáo dục Trí Việt phối hợp với Saigon Media tổ chức ngày 30/6/2010 tại thành phố HCM, bà Tôn Nữ Thị Ninh chủ trì hội thảo,có đặt câu hỏi về vai trò của báo chí Việt Nam trong công cuộc xây dựng thương hiệu quốc gia Việt Nam.

Nhà báo trước khi hành nghề đã là một công dân. Chính vì vậy mặc định ở đây: nghĩa vụ công dân đối với đất nước của nghề làm báo là chuyện không cần bàn cãi. Mặc định tiếp theo của nghề báo là “nghề nói lên sự thật”. Càng nói sự thật bao nhiêu báo chí sẽ càng góp phần vào việc xây dựng thương hiệu quốc gia.Đó cũng là PR của báo chí đối với quốc gia hay nói nôm na là “dân vận của báo chí.”

Báo chí: tác nhân xây dựng “thương hiệu”quốc gia

Một trong những mô hình phát triển đầu tiên của báo chí là tác nhân xây dựng “thương hiệu”quốc gia. Chính phủ Ấn độ đã thành lập và tài trợ cho Quỹ tài sản thương hiệu Ấn độ (India Brand Equity Foundation) mà nhiệm vụ chủ yếu là “giải độc” những tin tức có khả năng xấu đối với uy tín quốc gia. Ông Ajay Khanna, tổng giám đốc của tổ chức này, luôn nói với báo chí “nghề của tôi là nói những tin tốt đẹp về Ấn độ hàng ngày” và theo ông, đó là những phẩm chất lành mạnh sẽ tạo nhiều kết quả vô hình như thu hút khách du lịch hay đầu tư nước ngoài.[i]

Tuy vậy vai trò báo chí không chỉ nói tin tốt mà là nói sự thật. Simon Anholt[ii], nhà tư vấn hàng đầu thế giới (theo báo The Economist) về thương hiệu quốc gia, trong cuốn “Trật tự mới về thương hiệu” (Brand new justice-2003) thì nhấn mạnh vai trò báo chí của mỗi quốc gia là nói đúng về hình ảnh quốc gia đó. Lawrence Chalip, tổng biên tập tạp chí Quản trị thể thao (Sport Management Review), giáo sư đại học Texas (Hoa Kỳ) từng viết:”Môt thương hiệu về nơi chốn, địa phương hay quốc gia chỉ có thể tạo dựng bền vững trên sự thật. Nếu ở đó chỉ có một khách sạn, bạn khong thể “sáng tạo” 5 hay 6 khách sạn chỉ vì mục tiêu tạo dựng hình ảnh hay thương hiệu.”[iii]

Trong chiến lịch Tái xây dựng thương hiệu Nigeria (Rebranding Nigeria), chính phủ Nigeria đã kêu gọi giới truyền thông trong nước đưa nhiều hơn những cái đẹp của quốc gia, ít nhất cũng cân bằng về số lượng với những tin tức về tham nhũng, hối lộ, chiến tranh sắc tộc, tệ nạn…

Nhà báo và nhà nghiên cứu báo chí Arturo Escobar(1995) đã cho rằng các lý thuyết về hiện đại hóa  quốc gia là người biện minh chính cho các quá trình phát triển và cách tiếp cận “ tác nhân xây dựng thương hiệu hay hình ảnh quốc gia ” của giới truyền thông. Cách “tiếp cận hiện đại hóa” này, thật ra, không mới. Nó đã được phát triển mạnh trong thời kỳ đệ nhị thế chiến bởi các học giả như Daniel Lerner( 1958), Lucien Pye(1963), Walter Rostow(1960) và Wilbur Schramm(1964).

Báo chí:Tác nhân đòan kết

Việt Nam có một lịch sử khắc nghiệt với 1000 năm chống ngoại xâm phương Bắc, 100 năm thuộc địa của Pháp và cuộc chiến thống nhất đất nước  hơn 20 năm. Vai trò của báo chí-truyền thông lại nặng hơn khi được đòi hỏi trở thành một lực lượng đòan kết quốc gia chung quanh nhiệm vụ” tái xây dựng thương hiệu Việt Nam”. Chiến tranh cũng làm phân hóa nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội và báo chí sẽ là tác nhân chính hàn gắn những khoảng cách này dưới một lí tưởng chung là “đổi mới và hội nhập.”

Các nhà báo đã giúp vận động những người dân bình thường ủng hộ các đường lối chính trị và chiến lược kinh tế do chính phủ hay các cơ quan phát triển họach định nhân danh họ.Ví dụ các tờ báo thường xuyên đăng tải í kiến độc giả chung quanh các dự thảo luật như luật đất đai, luật thuế thu nhập cá nhân, hay các dự án lớn như dự án đường tàu cao tốc Bắc Nam, dự án xây nhà Quốc Hội…Các nhà báo cũng là những “con chim báo bão” cho những tai họa môi trường ví dụ gần đây báo chí đăng tải về những dự án “kiên cố hóa” trên những đồi thông Đà Lạt:Từng được ngợi ca là “thành phố mộng mơ”, “thành phố trong rừng”, “thành phố ngàn hoa”… một trong những “thiên đường du lịch” của Việt Nam với những rừng thông bạt ngàn xanh ngắt nhưng nay Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) đã không còn là chính mình và “thiên đường” này đang biến dạng thảm hại.” (Báo Người Lao động ngày 26/7/2010).

Sắp tới đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11, báo chí sẽ là diễn đàn rộng rãi để người đọc góp í vào các dự thảo đường lối phát triển đất nước.Khi đó, các nhà chính trị và nhà hoạch định chính sách sẽ phải tham khảo diễn đàn này, vì vậy trách nhiệm của nhà báo càng nặng nề hơn khi họ trở thành tác nhân làm cho í kiến các cá nhân đơn lẻ trong xã hội có khả năng cố kết thành một sức mạnh quốc gia.

Phóng sự điều tra “không tiêu cực”

Hầu hết các tổng biên tập mà chúng tôi có phỏng vấn đều khuyến khích viết các bài báo tích cực về các cá nhân,mà chúng ta thường gọi là” người tốt việc tốt”. Theo í kiến của đa số họ thì những bài báo thuộc loại này không phải chỉ là nêu gương mà còn đóng góp vào sự ổn định xã hội, xây dựng sự hòa đồng giữa các nhóm lợi ích đa dạng,củng cố kinh tế. Nhiều nhà báo Á Châu kỳ cựu (Octama,1989:145;Pudjomartoro,1998:105) cũng từng nhấn mạnh rằng những tin tích cực không lọai ra những phóng sự điều tra về các vấn đề xã hội, và các cuộc khủng hỏang,nhưng ”không giật gân , câu khách”.Theo luận điểm này, chúng ta không nên dùng cụm từ” bài báo chống tiêu cực” mà chỉ nên dừng lại ở thuật ngữ “phóng sự điều tra” mà thôi.Những bài báo hay tin tức như thế sẽ nhấn mạnh đến nguyên nhân dẫn đến vấn đề hay khủng hỏang (ví dụ: vụ tham nhũng tại PMU 18 năm 2005 chẳng hạn, nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế quản lí quỹ viện trợ phát triển) và liệt kê những giải pháp, nhờ vậy người đọc hay công chúng có thể hiểu và hành động một cách xây dựng để vượt qua khủng hỏang, hơn là chủ yếu tấn công vào các cá nhân. “Bức tranh lớn” cũng không kém quan trọng.Ví dụ: một nhà báo có tinh thần xây dựng thương hiệu quốc gia khi viết tin  về vụ bê bối của chủ tịch tỉnh Hà Giang[i] sẽ tránh gây hiểu lầm rằng đó là một vụ bê bối được cả bộ  máy bao che, mà chỉ là một sai lầm cá nhân.

Cựu thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore đã cụ thể hóa phương pháp này bằng tuyên bố rằng:trật tự còn quan trọng hơn dân chủ.Ông cho rằng dân chủ quá trớn sẽ dẫn đến mất trật tự và lộn xộn và đó là “kẻ thù” của phát triển (Lee K.Y.,1992:29). Tuy vậy, một khi đất nước đã phát triển rồi, “kẻ thù” đó không còn nữa, người ta buộc phải đòi hỏi một “thượng tầng kiến trúc” thích hợp hơn, nghĩa là dân chủ nhiều hơn.

Nếu báo chí là tác nhân chính tạo dựng thương hiệu quốc gia thì đến lúc báo chí phải là tấm gương phản ánh được bộ mặt dân chủ, qua í kiến của nhân dân và sự tiếp thu í kiến đó từ các cơ quan lãnh đạo quốc gia. Nếu không thương hiêu quốc gia đã dày công xây dựng cũng sẽ dần bị xói mòn.

T.N.C



[i] VNEXPRESS 25/7/2010

Doanh nhân nói về báo chí và thương hiệu quốc gia:

 

Ông Phạm Phú Ngọc Trai, cố vấn cao cấp PepsiCo Đông Nam Á


“Hình ảnh của quốc gia là cảm nhận tốt hay xấu của quốc gia. Báo chí góp phần không nhỏ vào cảm nhận đó.”

 

Ông Don Lam, tổng giám đốc Quỹ đầu tư Vinacapital:

“Khi chúng tôi kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào Việt Nam, họ thường cần những thông tin có hệ thống về Việt Nam. Đó là thương hiệu quốc gia. Truyền thông là cầu nối chính đưa ra thế giới hình ảnh đó.”

 

Ông Đặng Lê Nguyên Vũ, chủ tịch kiêm Tổng Giám Đốc tập đoàn Trung Nguyên:

“Thao thức của tôi không chỉ là kinh doanh mà còn làm sao tạo dựng một thương hiệu quốc gia Việt Nam hùng mạnh. Giới tinh hoa của Việt Nam sẽ đi đầu trong công cuộc xây dựng thương hiệu quốc gia gồm nhà chính trị, doanh nhân, học giả, trí thức và không thể thiếu giới truyền thông.”

 

Ông Phạm Uyên Nguyên, tổng giám đốc công ty quản lí Quỹ đầu tư Hợp Việt (Synergy Fund):

“ Một thương hiệu quốc gia uy tín phải được nhìn nhận về cách lưu chuyển dòng vốn ra thị trường thế giới. Tôi mơ tới các công ty đa quốc gia của Việt Nam. Báo chí có thể xây dưng thương hiệu quốc gia từ cách tiếp cận toàn cầu đó.”

 

 


[i] http://nation-branding.info/2009/02/25/branding-nigeria/: vui lòng đọc bài: Rebranding Nigeria

[ii] Simon Anholt, giám đốc công ty “Xây dựng thương hiệu địa lí”, một doanh nghiệp tư vấn cho các quốc gia, vùng, hay thành phố về các chiến lược thương hiệu vì mục đích phát triển kinh tế. The Economist mô tả ông là “nhà tư vấn hàng đầu thế giới cho các công ty và chính phủ muốn xây dựng các thương hiệu toàn cầu.”

[iii]  www.utexas.edu/features/2010/04/26/sport_tourism/: bài Wish you were here.

Tháng Tư 16, 2011 at 2:44 sáng Để lại phản hồi

PR và báo chí-Vòng xoáy im lặng

PR và báo chí

 Vòng xoáy im lặng

Trần Ngọc Châu

 

Tại sao doanh nhân sợ báo chí?

Nhà báo Kim Ngọc, phó tổng biên tập tạp chí Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương, nói tại cuộc gặp báo chí do một công ty tổ chức mừng 85 năm ngày báo chí cách mạng Việt Nam hôm 16.6.2010 tại thành phố HCM, rằng: nhà báo chúng ta còn “chưa công bằng” với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp dân doanh (ông tránh dùng chữ “tư nhân”).

Ghét và cần

Nhưng để viết được những bài báo công bằng đó, việc đầu tiên là các doanh nghiệp phải cởi mở thông tin với phóng viên. Trên thực tế doanh nghiệp-nhất là doanh nghiệp tư nhân-rất ngại tiếp xúc với nhà báo.Nhiều nhà báo trẻ thường hỏi chúng tôi rằng: làm sao tiếp cận được doanh nhân vì đa số họ không thích báo chí?

Có phải doanh nghiệp không cần báo chí?

Trong cuốn “Sức mạnh của tin tức” , nhà báo và giáo sư Michael Schudson giả định một ngày nào đó báo chí biến mất thì cái gì sẽ xảy ra?[i] Liệu truyền thông xã hội có thể thay thế báo chí không? Các công ty có thể tự mình ra báo để tự tiếp thị, quảng báo về mình không?

Câu trả lời là KHÔNG. Cho dù các tập đoàn kinh doanh có thể sở hữu các phương tiện truyền thông riêng, họ vẫn phải cần tới báo chí chuyên nghiệp và độc lập.

Điều đơn giản là công chúng đã hình thành thói quen tin cậy báo chí chuyên nghiệp nhiều hơn là báo của công ty. Một tập đoàn xây cầu, cầu bị lún hay nứt, không thể tự giải thích trên tờ báo của chính mình. Hay một tổng công ty sản xuất nước giải khát nhưng bị phát hiện hương liệu quá hạn, công ty đó không thể chỉ tự giải thích trên báo, đài do mình bỏ vốn đầu tư.

Tại sao sợ báo chí ?

Warren Buffett sở hữu một tờ báo và làm chủ nhiệm trực tiếp điều hành một tờ khác, mới đây đã tỏ ‎ ra bực bội vì báo chí bóp méo thông tin trong bức thư ông gửi cổ đông.[ii]

Báo chí đã trích dẫn sai bức thư 12.830 từ của ông.Cụ thể câu này:” Ví dụ, chúng tôi tin rằng kinh tế sẽ còn khó khăn suốt năm 2009-và có lẽ còn kéo dài nữa-nhưng kết luận đó không nói rõ cho chúng ta là thị trường sẽ lên hay xuống…” .

Nhiều tờ báo đã trích phần đầu của câu này,nhưng cắt bỏ phần sau. Buffett cho rằng người đọc hay khán giả bị thông tin sai có thể nghĩ răng ông đã dự báo xấu về thị trường chứng khoán, trong khi sự thật là ông không hề có dự báo gì về thị trường cả. Những nhà đầu tư cả tin  vào báo chí lá cải đã trả giá đắt: Chỉ số Dow Jones từ 7.063 hôm công bố bức thư đã lên 10.428 vào cuối năm . Warren Buffet đã cố gắng cải chính, nhưng tiếng nói của ông không được nghe đầy đủ.Ông luôn thuộc về thiểu số so với “cái mồm vĩ đại” của giới truyền thông.

Mặc cảm thiểu số không phải chỉ có ở Buffett mà hầu hết các doanh nhân đều cảm thấy như thế. Chúng ta quay lại với lí thuyết “vòng xoáy im lặng” để giải thích hiện tượng này.

Vòng xoáy im lặng

Vòng xoáy im lặng (The spiral of silence) là lí thuyết về truyền thông do nhà nghiên cứu Đức Elisabeth Noelle-Neumann đưa ra vào thập niên 70. Bà cho rằng một người càng ít có khả năng có í kiến về một đề tài nào đó nếu người đó cảm thấy mình thuộc về thiểu số vì sợ bị trả thù hay bị cô lập bởi đa số còn lại.

Vòng xoáy của im lặng [iii]khởi đầu từ niềm sợ hãi bị trả thù hay bị cô lập và từ đó tăng dần lên. So ra như vậy, doanh nhân sợ báo chí cũng là dễ hiểu. Doanh nhân luôn cảm thấy mình thuộc về thiểu số, trong khi đó báo chí (hay truyền thông) là những định chế xã hội, đương nhiên thuộc về đa số. Tại Việt Nam báo chí của Đảng và nhà nước, , lại càng có sức mạnh đa số hơn. Vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi chúng ta vừa bước vào vận hội mới của kinh tế thị trường, báo chí chúng ta không tránh khỏi cực đoan khi nhìn thấy bất cứ giám đốc quốc doanh nào cũng có “tiêu cực”. Một giám đốc xí nghiệp nhà nước đã nói:” Mình cãi nhau với báo chí chẳng khác nào mình nhổ nước bọt lên trời. Họ ở trên, còn mình ở dưới mà.”

Chính vì vậy, sự chọn lựa tốt nhất của doanh nghiệp là im lặng và tránh né. Thái độ tiêu cực này cuối cùng chỉ gây thiệt hại cho cả đôi bên. Báo chí thì thiếu nguồn tin từ doanh nghiêp còn doanh nghiệp thì mất hẳn một kênh tiếp thị hiệu quả cho việc làm ăn.

Chúng ta cần có thời gian. Các nhà báo Việt Nam cần có thời gian để học cách viết báo kinh tế thị trường,còn các doanh nhân Việt Nam thì cũng cần có thời gian để học về vai trò của PR (quan hệ công chúng), trong đó có Media relations (quan hệ truyền thông) trong nền kinh doanh hiện đại. Chỉ có những chuẩn mực toàn cầu của nghề báo chuyên nghiệpnghề kinh doanh chuyên nghiệp mới giúp chúng ta thoát ra khỏi “vòng xoáy im lặng”, để nói lên tiếng nói chính trực và thông tin chuẩn xác vì sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước./.

Tháng 6/2010

Trần Ngọc Châu

(FBNC Television)


[i] Michael Schudson (2003):The power of news (Sức mạnh tin tức), Harvard University Press, London

[ii] Warren Buffett: Ngành báo chí quá tự mãn, ictnews.vn – 15-12-2009

[iii] Huang, Huiping. “A Cross-Cultural Test of the Spiral of Silence.” International Journal of Public Opinion Research 17.3 (2005)

Tháng Tư 16, 2011 at 2:30 sáng Để lại phản hồi

PR và báo chí- Ăn vào tương lai

Quan hệ giữa nhà báo và doanh nghiệp. Nên hay không nên kết thân với doanh nghiệp? Sử dụng hạ sách hay không khi đi tìm sự thật?

Trần Ngọc Châu

Phần lớn các giáo trình báo chí cho rằng nếu xây dựng mối quan hệ anh em với doanh nghiệp hay doanh nhân, báo chí có nguy cơ “ăn vào tương lai”. Tại sao? Vì hệ luận của mối quan hệ này không sớm thì muộn,cũng tạo ra một nền báo chí mất cân bằng (asymmetric). Tiến sĩ Michael Schudson, khoa báo chí trường đại học California ở San Diego cho rằng “tính khách quan” là một tiêu chuẩn không thay đổi của báo chí. Vì tính khách quan đó của sự thật mà nhà báo luôn cô đơn. Nhà báo càng phải tự mình cô lập khỏi sự thân thiết với những người có tiền (doanh nhân) và những người có quyền (nhà chính trị). Nhưng với nghề săn tin, liệu đây có phải là nghịch lí khi nhà báo phải lăn lộn vào thực tế để tìm ra sự thật? Các nhà báo có phải áp dụng triết lí “đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” hay không?

“Nhúng” vào doanh nghiệp

Thuật ngữ báo chí thời thượng là embedding (tức là “nhúng” nghĩa là các phóng viên “cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm” với thực tế hay nguồn tin) . Khi nền kinh tế bao cấp của chúng ta ở vào thời điểm chuyển đổi sang  giai đoạn đầu của kinh tế thị trường, nhiều nhà báo đã trở thành “bạn” hay “cố vấn” của doanh nghiệp. Công ty Minh Phụng là một thí dụ. Đó là một công ty may xuất khẩu có qui mô 5.000 công nhân. Nếu đi theo hướng chuyên ngành đó có lẽ họ đã yên ổn. Nhưng họ lại chuyển sang địa ốc-một ngành nhiều rủi ro nhưng có siêu lợi nhuận, đặc biệt vào thời điểm những năm 90, luật lệ của chúng ta còn rất bất cập và mơ hồ. Khi công ty vỡ nợ (thuật ngữ trên báo chí vào thời điểm đó là “mất khả năng chi trả”), người chủ của công ty là ông Tăng Minh Phụng chịu án tử hình. Vấn đề ở đây là liệu có nhà báo nào đã là bạn hay cố vấn cho ông? Trong “vương quốc của tin đồn” xuất hiện nhiều cái tên nhà báo. Mặc dù không có một công bố nào về vấn đề này, nhưng câu chuyện đã đưa đến kết luận: nhà báo, bất cứ lí do nào, cũng không được tư vấn hay có mối quan hệ thân thiện với doanh nghiệp.

Tốt hơn bạn nên giữ bàn tay sạch và theo phương châm “kính nghi viễn chi” trong quan hệ với doanh nghiệp. Vào ngày 31/5/2004, , tại Hội nghị quan hệ công chúng toàn cầu tổ chức tại Lousiana Hoa Kỳ, hai tác giả Jae-Hwa Shin và Glen T. Cameron kết luận rằng trong khi giao tiếp qua 11 hình thức quan hệ không chính thức[i] giữa doanh nghiệp và báo chí thì các nhà báo cảm thấy mặc cảm tội lỗi nhiều hơn so với các giám đốc PR của doanh nghiệp. 641 người bao gồm nhà báo và giám đốc công ty Hàn Quốc đã tham gia cuộc khảo sát này.

Sử dụng phương pháp phân tích hội tụ, hai tác giả đã khảo sát phản ứng của mỗi nhóm về khía cạnh đạo đức của từng loại quan hệ không chính thức, ví dụ: bạn cho rằng “nhận bì thư” tại các cuộc họp báo là chấp nhận hay không chấp nhận?

Cả hai nhóm ( nhà báo và giám đốc) đều có những phản ứng hết sức khác nhau. Nhóm các giám đốc doanh nghiệp đánh giá cao ảnh hưởng của các hình thức” quan hệ không chính thức” và cho rằng chúng không có vấn đề gì về đạo đức và có thể chấp nhận được. Trong khi đó, nhóm các nhà báo thì cho rằng khó chấp nhận các hình thức “quan hệ không chính thức” vì đã vi phạm đạo đức nhà báo.

Nhóm giám đốc doanh nghiệp hiểu lầm về đạo đức báo chí nhiều hơn là nhóm nhà báo hiểu lầm về đạo đức kinh doanh của giám đốc. Nghiên cứu này cho chúng ta thấy rằng ngay ở một nền báo chí cởi mở như Hàn quốc với các câu lạc bộ báo chí duy trì thường xuyên giao lưu giữa doanh nghiệp và nhà báo, thì suy nghĩ về đạo đức của hai giới này cũng rất khác nhau.

Ý kiến tương đồng giữa nhà báo và giám đốc

Nhà báo tự đánh giá

Nhà báo đánh giá giám đốc

GĐ đánh giá nhà báo

Ggd

               H1                                       H2

 

 

 

 

 

H1: khớp nhau giữa giám đốc đánh giá nhà báo và tự đánh giá của nhà báo.

H2: khớp nhau giữa nhà báo đánh giá giám đốc và tự đánh giá của giám đốc.

 

 

 

 

 

Bàn tay bẩn

Tuy vậy bạn hãy đọc qua ví dụ dưới đây (đăng trên báo mới.com ngày 30/3/2010):

“Năm 1992, sau rất nhiều năm làm việc và tích lũy kinh nghiệm, cùng với một số người bạn, Dương thành lập công ty  xây dựng Bích Quế Viên (Country Garden Holdings) và cho xây 4.000 căn biệt thự. Tuy nhiên, một năm sau, thị trường đất đai của Hồng Kông vừa trải qua cơn sốt đất, nên trong 4.000 căn hộ được xây dựng, Cty Bích Quế Viên của Dương Quốc Cường chỉ bán được 3 căn. Nguy cơ phá sản hiện hữu trước mắt Cty non trẻ.Không bó tay chờ chết, Dương mời một phóng viên của Tân Hoa Xã tới bàn hướng thoát khỏi cảnh tay trắng. Mô hình “Thành phố trường học” ra đời từ sau cuộc bàn bạc đó. Điều này đồng thời mang lại cho Cty Bích Quế Viên 390 triệu NDT!”

Phóng viên Tân Hoa Xã này (không nêu tên) liệu anh ta có được trả tiền để viết bài về “điển hình thành đạt “ hay trả công cho những ‎ í tưởng làm ăn của anh đóng góp với nhà tỉ phú?

Tại Thời Báo Kinh tế Sài gòn, chúng tôi thường khuyên phóng viên nên “la cà”, thậm chí cà phê hay nhậu với doanh nhân (thuật ngữ báo chí thế giới là”embedding”) để có những thông tin giá trị-những thông tin mà “những bàn tay bẩn” [ii] mới nắm bắt được. Đối với nhà báo, cốt lõi vẫn là sự thật. Anh phải được biết sự thật. Nguồn tin sẽ không nói hết sự thật cho anh nếu anh không trở nên tín cẩn với họ.

Thật ra ở đây nên tách hai vấn đề: một là thực hành luật pháp và thực hành đạo đức nhà báo.

Không ít án oan hay “tình ngay lí gian”. Nhà báo trước hết là một con người và một công dân. Anh ta (hay chị ta) phải tuân thủ pháp luật. Nếu một nhà báo bị chứng minh là “tư vấn cho doanh nghiệp” và sau đó doanh nghiệp bị chứng minh là “lừa đảo” thì đương nhiên nhà báo phải ra trước vành móng ngựa. Thật ra pháp luật và công lí không thể đã “gạn lọc” hết những người phạm luật-một việc mà đạo đức có thể làm được. Một nhà báo có thể bị tù vì nói lên sự thật, như vậy anh vẫn yên ổn với tòa án đạo đức của anh. Bạn nghe vậy chắc nghĩ rằng lập luận đó hoàn toàn vô nghĩa về mặt thực tế.Nhưng bạn nên nhớ rằng  nền tảng của mọi hành vi con người kể cả hành vi chuyên nghiệp của nhà báo chúng ta, cũng phải được điều khiển bởi bộ máy í thức. Một người điên dù giết người vẫn vô tội.

Không dùng hạ sách

Theo chúng tôi, đạo đức nhà báo hầu hết nằm trong phương pháp nắm bắt sự thật chứ không phải cách thức công bố sự thật. Nếu anh dùng phương pháp vô đạo đức (mang tính lừa mị) để lấy thông tin thì thông tin anh công bố cũng không đạo đức. Tất nhiên phải có giả định rằng còn rất nhiều phương pháp “chánh đạo” tiềm năng mà nhà báo chưa tận dụng hết. Ví dụ: năm 1989, nhóm phóng viên chính trị-xã hội báo Tuổi Trẻ phải giả dạng những khách ăn chơi vào ổ nhện Đường Sơn Quán để làm phóng sự điều tra các cán bộ tha hóa. Họ đã trở nên “người nhà” của chủ quán và đã đánh lừa bà để lấy cả album hình ảnh…Nếu xét theo khía cạnh chuyên nghiệp báo chí thì họ đã thành công khi tiếp cận sự thật trần trụi, và bài báo đã rất thuyết phục công chúng, gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh xã hội về đạo đức. Nhưng họ vẫn bị giới truyền thông và cả công chúng (nhiều năm sau)  “xét lại” vì phương pháp mà họ sử dụng trong trường hợp này là rất “hạ sách”, trong khi họ còn nhiều khả năng tiếp cận khác đứng đắn hơn (mất nhiều công sức và thời gian hơn, tất nhiên!).

Cuộc đấu tranh không ngừng về đạo đức của người làm báo chuyên nghiệp (ở ta rất nhiều người có thẻ hành nghề nhưng lại thiếu chuyên nghiệp) là đấu tranh giữa một bên là sự thật và một bên là cách nắm bắt sự thật.

Chúng ta phải hành nghề với triết lí “bàn tay bẩn” (theo nghĩa đen) thì mới có thể dấn mình vào thực tế mà moi ra sự thật.

Tuy vậy, không thể ngụy biện rằng “vì sự thật” mà tôi có thể hi sinh những chuẩn mực hành nghề. Công chúng có thể tung anh lên mây vì những thông tin mà anh công bố, anh có thể làm thay đổi nhận thức của công chúng về một vấn đề này hay vấn đề khác. Nhưng tất cả là ngắn hạn. Nếu sau này người ta biết rằng anh đã sử dụng phương pháp lừa mị, không ngay thẳng, thiếu chuyên nghiệp của nghề báo để lấy thông tin thì công chúng –vốn vô tình và thẳng thắn- sẽ hoài nghi và dẫn tới sụp đổ lòng tin về sự trung thực .

Nếu tác nghiệp bằng phương pháp hạ sách thì chẳng khác nào nhà báo đang ăn dần tương lai.

Quan hệ với doanh nghiệp đương nhiên phải có vì đó là nguồn tin của anh, nhưng anh vượt qua giới hạn đó , được hưởng lợi gián tiếp từ thông tin mà nhờ nghề báo anh có được,thì trước sau gì anh cũng bị hủy hoại tên tuổi và phải từ bỏ nghề báo-một trong những nghề gần nhất với tôn giáo như bậc thầy lí luận báo chí Bill Kovat đã viết trong tác phẩm “Các thành tố của nghề báo” (The elements of Journalism). [iii]

TNC

Tháng 5/2010


[i] 11hình thức quan hệ không chính thức với nhà báo:

  1. cổ phiếu ưu đãi
  2. mời cơm
  3. tham quan thực tế
  4. dự khai trương, động thổ
  5. việc làm cho người thân, bạn bè nhà báo
  6. tài trợ
  7. quảng cáo
  8. du lịch nước ngoài
  9. quà (lễ, tết…)
  10. thưởng
  11. bì thư họp báo

[ii] Những bàn tay bẩn (Les mains sales) là một vở kịch nổi tiếng của nhà văn (kiêm triết gia Pháp-chủ xướng trường phái triết học hiện sinh) Jean Paul Sartre nêu lên nghịch lí giữa giá trị đạo đức cá nhân và nghĩa vụ của tổ chức giao phó.

[iii] Bill Kovach (2001): “Journalism is the closest thing I have to a religion.”

Tháng Tư 16, 2011 at 1:36 sáng 1 comment

De cuong chuong trinh viet tin kinh te Khoa Bao chi Dai hoc KHXHNV

Đề cương môn viết tường thuật  kinh tế

TS Trần Ngọc Châu

6 buổi

         
-  Tổ chức ban kinh tế-  Công việc của phóng viên kinh tế

-  Tố chất cần có/cần của phóng viên kinh tế

-  Kiến thức phóng viên kinh tế

-  Cách thiết lập nguồn tin kinh tế

– Đạo đức nhà báo kinh tế

Buổi 116/4 Dẫn nhập, chia nhóm.Hướng dẫn phương pháp học tập,thực hành.

-Phân công làm việc nhóm.

_Kinh tế là gì? Tại sao tin kinh tế quan trọng? Tổ chức ban kinh tế tại các tòa soạn hay đài.

-Phân tích  theo SWOT của đội ngũ phóng viên kinh tế Việt Nam hiện nay.

Tài liệu tham khảo:10 thủ thuật viết tin kinh tế (Paul Hemp)

Các khái niệm cơ bản về kinh tế.NXB Tổng Hợp TP.HCM (2010)

Trần Ngọc Châu: Kinh tế lạm ghi (2011): bản thảo

Trần Ngọc Châu (2010): Báo chí kinh tế và PR (tạp chí Người Làm Báo)

-          Đề cuối khóa:Mỗi nhóm bắt đầu làm một bản tin kinh tế 4 trang A 3
-  Kỹ năng thu thập và xử lý thông tin kinh tế-  Kinh nghiệm tác nghiệp trong một số tình huống

Điểm nhấn toàn khóa : Cách  viết tin bài kinh tế viết tin bài kinh tế (báo in/phát thanh truyền hình/báo mạng)

Buối 223/4 Ma trận 2 K của tường thuật kinh tế.-Xây dựng nguồn tin kinh tế .

-Làm sao viết chính xác? (Phối kiểm)

Thầy Châu
Hướng dẫn : Làm việc nhóm và trình bày(lấy điểm giữa kỳ) 30%
Buổi 37/5 kĩ năng và thủ thuật  viết tin kinh tế Nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4Nhóm 1: -thuật ngữ

Nhóm 2: con số

Nhóm 3: con người

Nhóm 4: nguồn và phối kiểm nguồn tin

Điểm này sẽ lấy cho 30% giữa kỳ.
Buổi 414/5 Đi thực tế4 đơn vị:

1 ban kinh tế , 1 công ty, 1 cơ quan nghiên cứu kinh tế, 1 hoạt động kinh tế

Công ty Gỗ Đức Thành,  ban kinh ntế báo Thanh Niên, Viện quản trị tài chính, chợ Bến Thành (quan sát, hỏi người bán hàng, người đi chợ…, ban quản lí chợ)
Buổi 521/5 -Đúc kết chuyến đi thực tế-Nhận xét các tác phẩm của các nhóm (tính vào điểm cuối khóa). 4 nhóm trình bày
Buổi 628/5 Làm bài thi cuối khóa ở lớp.

Tháng Tư 16, 2011 at 1:20 sáng Để lại phản hồi


Lịch

Tháng Tư 2011
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 9   Tháng 1 »
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930  

Posts by Month

Posts by Category


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.