Vị đắng những chuyến đi xa

                                                                                      Ký sự ‘quá giang’

 

VỊ ĐẮNG NHỮNG CHUYẾN ĐI XA

Bài này đã đăng trong báo Xuân Tuổi Trẻ năm 1989. Có lẽ đó là lần đầu tiên cụm thuật ngữ”ký sự quá giang” được sử dụng trên báo. Cũng chỉ là mượn chuyện người khác mà nói tâm sự của mình.

Thật ra thời nào có khó khăn của thời đó , điều quan trọng là khó khăn có được thay đổi hay không . Rõ ràng ,những khó khăn trong bài ký sự gần như không còn nữa , nhưng cũng không có nghĩa là tất cả mọi chuyện đều đã dễ dàng trôi qua .

Đó là lý do dể ký sự đuợc đưa vào cuốn sách tập họp những bài báo được xuất bản lần này.(2006)

 

 

Một ông giám đốc thuộc loại trẻ, có học thức, sau khi kể với tôi chuyện đi Tây, đã than  : “phải chi nhà báo các ông được đi nhiều để viết cho dân mình, cán bộ mình cùng đọc, cùng hiểu cái thân phận nghèo nhất thế giới của chúng ta mà đủ nhục như cái nhục mất nước, vậy mới quyết chí vươn lên nổi”.

Nhưng thưa bạn đọc, nếu chờ đến lượt mình đi nước ngoài thì “còn khuya”, nên tôi mạn phép mượn lời kể của những nhà quản lý mà tôi đã gặp sau những chuyến đi học tập xứ người, để viết bài ký sự dưới đây.

 

Có một người ngoại quốc từng muốn “ngủ một giấc, sáng ra thấy mình là người Việt Nam”. Câu nói này hình như chỉ để mở đầu cho những chuyện cổ tích!

Lần đầu tiên đến Thái Lan, ngồi đợi ở sân bay Bangkok, tôi thấy một đoàn người xếp hàng dài dưới nắng mà không được vào ga. Hỏi ra mới biết đó là những thanh niên Việt Nam chờ máy bay chở đi lao động ở Trung Đông. Họ không được phép vào ngồi đợi máy bay ở nhà ga như nhũng hành khách khác. Tôi không hiểu tại sao, nhưng cảm thấy nhục vì người Việt Nam mình đi nước ngoài, đặc biệt các nước tư bản, là phải đi qua cửa ngõ sân bay Bangkok – thay vì chỉ cần qua cửa ngõ Tân Sơn Nhứt của nước ta – rồi từ đó mới đáp máy bay đi tiếp. Cho nên phải chịu bao cảnh ngang trái đau lòng. Trở lại chuyến đi lao động ở Trung Đông. Một người bạn ngồi ở phi trường với tôi hôm đó đã kể rằng : Người Việt Nam đi Trung Đông để đào kênh qua sa mạc, lao động cực nhọc, thỉnh thoảng còn bị đánh đập, vì nước người ta là tư bản. Có anh xa vợ lâu ngày mà bên Trung Đông cái khoản phụ nữ là đặc biệt cấm kỵ nên khi về đến Thái Lan, bao nhiêu tiền dành dụm, đem ra ăn chơi xả láng, và mắc bệnh, không dám về Tổ quốc nữa. Nhân chuyện này, tôi nhớ có lần tôi đi dự một hội nghị du lịch tại Tiệp Khắc, ở đó, tôi đã xem trên truyền hình một bộ phim tài liệu hình sự, diễn ra cảnh các thanh niên Việt Nam lao động hợp tác tại Tiệp Khắc thanh toán nhau bằng búa. Tôi chợt hiểu tại sao tôi đón mãi mà xe buýt không dừng, đến khi mang huy hiệu phái đoàn Nhật thì mới đón được xe. Cũng không lạ gì cảnh người Việt mình ở Matxcơva không dám chào nhau bằng tiếng Việt vào thời điểm có một thanh niên Việt Nam giết một cảnh sát vì bị bắt quả tang nấu rượu lậu.

Còn đâu những huyền thoại về người Việt Nam anh hùng? Khi tôi đến nước Pháp hào hoa, đi ăn ở restaurant với mấy anh bạn Việt kiều, những ông khách bàn bên cạnh thấy chúng tôi là người châu Á, hỏi :”mày là người nước nào ?” Tôi chưa kịp trả lời, đã nghe người bạn Việt kiều : “ Người Nhật “ – “ A ! ông khách ngoại quốc kêu lên – nước Nhật của ông giỏi lắm. Xin cụng ly chúc mừng ông !”. Một lần khác tôi được giới thiệu là người Phi Luật Tân, thì người ta nói : “Nước ông còn đỡ hơn Việt Nam”. Ở Matxcơva tôi thử nói là người Trung Quốc xem sao, thì nhận được câu trả lời : “Ông nên gửi hàng thêm. Hàng của nước ông  tốt lắm. Còn hàng Việt Nam ở  Nga thì quá tệ”

Đó chỉ là những câu nói vô tình vì họ không biết tôi là người Việt và chính vì vậy, những câu nói đó chứa đầy vị đắng của sự thật. Lâu nay chúng ta cứ đóng cửa ca ngợi nhau mà không biết thế giới đang ngày càng vượt quá xa chúng ta. Có dịp đi bàn chuyện buôn bán , làm ăn ở một nước Tây Âu tôi mới thấy hết cái lạc hậu của mình. Một điều đáng buồn nữa là trong khi thế giới người ta đã quan niệm quan hệ là : “hai bên cùng có lợi” thì cán bộ ta cứ nghĩ chuyện “đề nghị tài trợ, giúp đỡ, nghĩa là cứ tính chuyện… xin-cho.

Có lần tôi cũng tự sỉ vả mình, vì tỏ ra choáng ngợp trước không biết cơ man nào là hàng hóa trên những đường phố Bangkok. Tôi đã đi lại hàng giờ trước cửa hàng bán lốp ôtô xếp cao như núi, mà nhớ lại nỗi cay đắng của mình khi làm đơn xin duyệt một cái lốp ôtô, chờ cả tháng trời, lại xuống Vũng Tàu mới có. Khi đến Singapore tôi mới khám phá ra rằng nỗi vui của tôi khi đọc tin trên báo chí, mình ca ngợi một số nhà máy dệt “hiện đại hóa thiết bị” nhập máy mới rẻ, tiết kiệm cả triệu đôla là chuyện buồn cười. Singapore, Nhật, CHLB Đức đâu còn muốn dệt vải nữa vì nhân công quá đắt. Ta cảm ơn họ rối rít trong khi lẽ ra họ phải cảm ơn chúng ta mới đúng , vì đã lãnh “của nợ” giùm họ (dù của nợ này cũng tốt chán với chúng ta). Chẳng qua chúng ta thiếu thông tin, như anh mù xem voi: đụng cái nào cũng là “voi cả”.

Ơ Manila, tôi để ý thấy người ta quảng cáo rầm rộ trên tivi những sản phẩm mang nhãn hiệu nước ngoài được sản xuất, lắp ráp ở chính Phi Luật Tân, theo kiểu sous-licence, mà không mặc cảm tự ti dân tộc chút nào, vì hàng vừa tốt vừa rẻ. Tôi đến thăm hãng Samsung ở Seoul. Trước đây hãng này cũng làm theo công nghệ Nhật và sản phẩm của hãng cũng mang nhãn hiệu nước ngoài, nhưng sau khi cải tiến được trên 50% các chi tiết thì sản phẩm được mang nhãn hiệu Samsung, hiện nay không thua kém gì sản phẩm Nhật, giá cả lại rẻ hơn. Tôi được biết tiền lương tháng của một công nhân quét dọn ở đây là 500 đô còn tổng giám đốc thì phải 7.000 đô trở lên”. Lên án chế bóc lột công nhân tận xương tủy như thế nào đây ? Nói đến chuyện sản xuất sous-licence tôi nhớ  hồi trước 1975 tại ngay Sài Gòn đã có nhiều hãng làm như vậy : National, Sanyo, Renault… Rất tiếc chúng ta đã để lỡ mất cơ hội, nay thấy người tiến bộ mà thèm.

Giờ xin nói sang chuyện dịch vụ. Ở các thành phố mà tôi đã đi qua : Tokyo, Singapore, Manila, Bangkok, Seoul… bất cứ đâu trong thành phố cũng có bàn “exchange” (đổi ngoại tệ), tạo mọi sự dễ dàng cho khách nước ngoài, chứ không khó khăn kỳ cục như bên ta. Đặc biệt ở Manila tôi thấy các quầy đổi tiền của ngân hàng Nhà nước đổi giá cao hơn của tư nhân. Tại một quầy tư nhân tôi đã đổi một đô lấy 20,4 pêsô còn sau đó tại một quầy của ngân hàng Nhà nước tôi đã đổi được 20,8 pêsô. Cho nên phần lớn ngoại tệ đều vào tay nhà nước. Cách làm này hoàn toàn ngược với nước ta. Ở Thái Lan mạng lưới dịch vụ cũng như thái độ phục vụ so với ta, có thể nói là “cực kỳ”. Ấn tượng đầu tiên là thủ tục Hải quan sân bay quá nhẹ nhàng. Hàng hóa ngoại quốc mang vô nước họ không thành vấn đề. Riêng hàng tiêu dùng mà Thái Lan không sản xuất,được mang vào tự do, không phải chịu thuế má gì cả. Tôi đã đến bãi biển du lịch Pattaya. Cảnh quan ở đây đâu sánh nổi với Vũng Tàu, Nha Trang chứ đừng nói chi Hạ Long, Đà Nẵng, thế mà du khách nườm nượp, phải kể con số triệu mỗi năm. Bởi họ biết tổ chức phục vụ tối đa mọi nhu cầu của con người, từ phòng tập thể dục đến bể bơi và kể cả… “sex tours”. Quan niệm “đạo đức” đã thành nếp không cho phép tôi chấp nhận một dịch vụ công khai như vậy. Nhưng đây là một vấn đề kinh tế dịch vụ , dù có dị ứng về mặt đạo đức, tôi vẫn phải công nhận sự tồn tại có lý của nó. Tại khách sạn tôi ở, có một phòng rất sang trọng, trong đó có các cô gái xinh đẹp mang số hiệu đàng hoàng. Khách bên ngoài nhìn vào có thể chọn lựa. Phản ứng đầu tiên của tôi là phẩn nộ, nhưng nhớ lại cảnh bên nhà : Ngoài đường ban đêm không thiếu các cô gái ăn sương, thậm chí báo chí đã đăng nhiều phóng sự, nên tôi đành “điều chỉnh” phản ứng của tôi. Từ bên trong, các cô không nhìn thấy mình đang bị lựa như một món hàng. Ở Manila, các khách sạn lớn tuyển chọn những cô gái hoàn toàn tư nguyện. Tôi tìm hiểu và ngạc nhiên  khi biết có đòan du khách nước ngòai vào Việt Nam và than : buồn quá .  Sau đó họ bay sang Thái Lan, Mã Lai vung tiền “đổi một trận cười như không”. ( Đương nhiên chúng ta không thể làm như họ ,nhưng cũng không thể bình chân như vại , chịu cảnh thất thu ). Đó chẳng phải là nỗi đau của những nhà làm du lịch hay sao? Riêng tôi, càng đi càng thấy đau. Lúc đến Singapore, tôi để ý thấy trong các danh bạ điện thoại ở khách sạn, nhà hàng đều có câu “Every country in the world but Vietnam”, nghĩa là : có thể gọi điện thoại khắp nơi trên thế giới, ngoại trừ Việt Nam. Tôi bàng hoàng vì không thể ngờ trong thời đại bùng nổ thông tin này vì kém cỏi mình lại bị loại ra khỏi hệ thống. Họ hận thù vì ta là xã hội chủ nghĩa ? Nhưng Tiệp Khắc, Liên Xô, Trung Quốc thì sao? Tôi không lý giải được, chỉ thấy một nỗi nhục canh cánh bên lòng. Ở Seoul tôi lại bị một nỗi đau khác gậm nhấm, khi thấy trên đường phố chỉ toàn xe hơi nhưng không tìm đâu được một xe nhãn hiệu Nhật, Mỹ, hoặc Ý. Người Nam Triều Tiên chỉ đi xe hơi do chính họ sản xuất. Cũng không nên vội vàng so sánh với nước mình vì mình chưa làm được xe hơi. Có điều tôi đau khi biết rằng chủ hãng xe hơi lớn nhất Nam Triều Tiên hiện nay, hãng Hyundai, là con trai của một nông dân mà lúc cha của ông ta còn cày ruộng , thì ở Sài Gòn người ta đã lắp xe La Dalat rồi. Trước đây, nhiều người sợ rằng nếu mở cửa du lịch thì văn hóa tư sản sẽ ùa vào, đầu độc thanh niên nước ta, nhưng đi một số nước, tôi thấy không hẳn tuổi trẻ ở đó chỉ biết ăn chơi, sống vội. Như ở Seoul chẳng hạn, thanh niên ăn mặc lịch sự, gọn gàng, lúc nào cũng thắt cà vạt rất chững chạc, văn minh. Tôi để ý thấy họ ít nhậu nhẹt và hút thuốc ngoài đường phố. Ở Seoul mười ngày, tôi chỉ mời được một người hút thuốc. Có lẽ rượu, thuốc đều rất đắt mà họ lại tiết kiệm tiêu xài, chứ không” xả láng sáng nghỉ sớm” như quan niệm của một số bạn trẻ chúng ta.

Ai đi xa về lại không sung sướng khi máy bay đến gần Tổ quốc. Tôi không có niềm sung sướng đó mà chỉ hồi hộp, lo âu vì biết bao thủ tục phiền hà đang chờ đợi. Rời sân bay Bangkok chưa đầy mười lăm phút đã thấy nhân viên hàng không phát cho hành khách mỗi người bốn tờ giấy dài đầy chữ. Hầu như mọi thứ lỉnh kỉnh đều phải khai ra hết, bao nhiêu áo pull, áo gió, quần bò cho đến một đồng đô còn sót. Chưa khai hết một tờ đã dọn ăn. Có hành khách không kịp ăn vì phải vật lộn với những khoản mục trong các tờ khai.

Tôi chợt nghe hai ông khách nói tiếng Anh ở hàng ghế trước : “Ông đi Việt Nam du lịch?”. “Không, tôi có việc mới đến, chứ xứ sở quá phiền hà thế này đi du lịch cái gì”. Tôi như bị cái tát tai hay một gáo nước lạnh vào mặt.

Chưa hết, xuống đến nhà ga phi cảng lại phải chờ thêm cả tiếng đồng hồ, mồ hôi ra đẫm áo mà thủ tục dường như cứ đứng ì một chỗ. Một ông khách tưởng tôi là người ngoại quốc, lắc đầu nói :”Mất cả giờ rồi mà chúng ta chưa ra khỏi phi trường, không có đâu như ở đây”. Tôi đỏ mặt xấu hổ, nhưng không biết nói thế nào. Các bàn để làm thủ tục hải quan xếp theo hình chữ U quanh hành khách cũng gây một cảm giác sợ hãi như trước vành móng ngựa. Tôi đã đi qua Nhật, Ý, Pháp, Phi Luật Tân, Singapore, Nam Triều Tiên, Tiệp, Liên Xô rồi về Thái Lan, tôi có ý so sánh bên mình qua các cửa sân bay nên bấm giờ để coi thủ tục họ nhanh – chậm thế nào. Phải nói ở các nước XHCN còn chậm, nhưng ở các nước tư bản thì không quá vài  phút. Ở phi trường Nhật chỉ năm phút. Ở Bangkok, mình đi chậm nhân viên hải quan còn hối thúc đi nhanh. Có thể có trường hợp lâu nhưng chỉ là cá biệt vì nghi ngờ mang vũ khí hay ma túy. Lúc tôi đến phi trường Seoul thủ tục chậm hơn đôi chút vì đang có Olympic. Ở các nước, tờ khai của họ chỉ bằng bàn tay với bốn năm câu hỏi, chủ yếu để thông báo khi có tai nạn, Ở Bangkok, mang vào trên 10.000 đô mới khai, nhưng không khai cũng không sao. Họ sợ mất khách du lịch vì một thái độ bất nhã nào đó, nên rất tránh khám xét. Họ dám bỏ con tép để câu con tôm, chứ không “cò con “ như chúng ta. Cái cảm giác dễ chịu không thể nào có được khi đứng trước những khuôn mặt lạnh lùng, nghi kỵ ở căn phòng làm thủ tục tại sân bay. Đối với người đi du lịch, cái thích nhất chưa hẳn là cảnh đẹp, gái đẹp mà là lòng hiếu khách.

Kết thúc bài ký sự “quá giang” này, tôi không biết gì hơn là cảm ơn(và cả xin lỗi) những người kể chuyện xưng “tôi”[i] trong bài -những người đã mất thì giờ cho nhà báo sau những chuyến đi xa. Cái cảnh “quá giang” cũng là đặc biệt, nhưng biết làm thế nào đối với một nhà báo quá đói thông tin. Lại nữa : mùa xuân “trông người mà ngẫm đến ta”, chẳng khác nào uống thuốc đắng, không có gì thú vị; nhưng tổ tiên ta vẫn dạy : thuốc đắng dã tật. Nghìn chén đắng thế này cũng chưa dã tật đâu, tôi chỉ mong nỗi nhục này góp phần thức tỉnh chúng ta, vươn lên làm giàu và sống có văn hóa, văn minh thật sự, chứ không mãi tự ru mình trong những ánh hào quang đã tắt.

 

 

  • (*)( Các chức trách là vào thời điểm 1989 , năm bài báo đuợc viết lần đầu . còn tất cả chú thích là cho lần xuất bản năm 2006)

 

  • Nguyễn Bá : Nguyên giám đốc Bưu điện thành phố HCM , nay đã nghỉ hưu .

 

  • Lê Công Giàu : Nguyên giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư thành phố HCM ( ITPC: Invetsment and Trade Promotion Center )
  • Đặng Trung Tín :Nguyên Phó Tổng Cục Trưởng Tổng cục du lịch Việt Nam
  • Lê Hùng Dũng : Nguyên giám đốc trung tâm du lịch Festival (Trung uơng Đoàn ) , nay là chủ tịch HĐQT kiêm bí thư Đảng Uỷ công ty vàng bạc đá quý (SJC) tp.HCM
  • Khiếu Thiện Thuật : Nguyên giám đốc và Chủ tịch HĐ QT Coats Total Phong Phú , nay đã mất .
  • Phan Phùng Sanh : Nguyên Tổng giám đốc Tổng công ty vật liệu xây dựng II Bộ Nội thương ( nay là Bộ thương mại)
  • Nguyễn Đăng Liêm: Nguyên Giám đốc công ty xuất nhập khẩu quận 3 Trilimex thành phố HCM, nay là luật sư .

 

 

 

[i]

Tháng Ba 29, 2018 at 11:32 sáng Bình luận về bài viết này

Vị đắng những chuyến đi xa

bia

Bìa cuốn sách “Vị đắng những chuyến đi xa”  xuất bản năm 2006 (NXB Trẻ)

Tháng Năm 22, 2017 at 3:18 sáng Bình luận về bài viết này

HOP MAT CUOI NAM

Họp mặt cuối năm
Ngày 15/1/2012 nhằm ngày 22 tết Nhâm Thìn đã diễn ra buổi họp mặt nhóm các bạn học thời Phan Chu Trinh Đà Nẵng, gọi là nhóm 69+- (sáu chin cộng trừ) vì có vài bạn tốt nghiệp trung học trước hay sau một niên khóa.
Nhớ tới vài bạn không còn nữa.
Người ra đi sớm nhất có lẽ là Nguyễn Xuân Tín ở New York. Năm 1996 tôi có dịp thăm Tín ở New York, và cùng bay với anh đi California thăm Phạm Phú Thiện, nhưng năm sau- 1997- anh qua đời vì căn bệnh ung thư quái ác ở tuổi 47 đầy tràn khát vọng.
Nguyễn Xuân Tín, tức là mục sư Tín, một trong 5 mục sư hàng đầu của cộng đồng Tin Lành ở Mỹ thời điểm đó. Các bạn học Phan Chu Trinh chắc hẳn khó quên văn phòng của mục sư Nguyễn Xuân Vọng tức là thân sinh của Tín nằm trên đường Thống Nhất (nay là Lê Duẩn) Đà Nẵng và nhà thờ Tin Lành xoay mặt ra đường Ông Ích Khiêm (nay vẫn còn giữ tên đó). Nơi đây rất rộng,cũng là nơi ở của gia đình Nguyễn Xuân Tín, nên chúng tôi, nhóm đệ nhị C (67-68) thường tụ tập hoặc để quay roneo tờ báo Khởi Đầu hoặc liên hoan lớp. Tôi nhớ Tết Mậu Thân, cả thành phố Đà Nẵng chìm trong không khí chiến tranh, còi giới nghiêm từng hồi hụ lên như tiếng kêu của người sắp chết, thế mà nhóm C năm đó vẫn hẹn đến nhà Tín ăn tất niên và các bạn đã “bày đặt” mượn rượu đế làm người lớn, nên ai cũng say bí tỉ, quên cả đường về. Tôi không uống được nên về trước. Hình như hôm đó Tín phải lái xe Jeep của nhà Tín đưa các bạn gái “má hồng men rượu” về nhà, để phải nhận những trận chửi mắng không tiếc lời của các bậc phụ huynh đang lo lắng cho các nàng con gái…Trong đám học trò thuộc loại “thứ ba” trong xếp hạng của dân gian:” nhất quỹ nhì ma, thứ ba học trò…”, thì Tín có lẽ là “bậc thầy” về quậy ngầm. Có lần, hình như cũng vào ngày nghỉ, do bãi khóa – , Tín đã lái xe mời các bạn gái qua bên kia sông (nay là quận 3) ăn thịt “nai” tại nhà một người bạn của Tín.Trên đường về Tín hỏi các cô nàng:-Có thích ăn thịt chó không? Tất cả đồng thanh: Không thích, ăn vào là bị ói ngay. Vậy khi nảy ăn thịt nai thế nào?-Ngon tuyệt vời, các cô nói, và thêm: Nhớ bữa sau mời nữa nhé. Tín cười. Khi gần đến nhà các cô, thì anh chàng mới tiết lộ bí mật: Thịt “nai” mà các cô ăn và rất thích, đó chính là “nai đồng quê”, tức là thịt chó! Một phen non ọe, y như người bị hành thai không bằng. Trong “đám xuân xanh ấy” không biết có những “cô nàng” mà tôi có thể nhớ: Phạm Thị Nhạn (wow!), Võ Thị Hạnh, Lê Thị Minh Tâm, Thủy (đen), Hương (em Thủy, học sau một lớp)…Nếu không phải và còn thiếu thì hãy tha thứ cho trí nhớ như “quả táo bị cắn hết 3/4 “ này nhé.
Tín, tôi và Phạm Phú Thiện, mà tôi vừa nhắc tên ở trên là một bộ ba ăn ý vào niên khóa 67-68. Tôi không hiểu tại sao, vì tôi và Thiện thì có những điểm “đồng” chứ Tín thì lại toàn điểm “dị” với chúng tôi. Nhà Tín khá giàu, lúc đó cậu ấy đã biết lái xe hơi (cùng với Cao Hữu An), còn tôi và Thiện chỉ toàn cuốc bộ. Có lẽ cả ba cùng học giỏi chăng? Cũng không, nếu có, thì chỉ có tôi và Thiện (lạy Tín nhé).Tôi và Thiện theo đạo Phật hay đạo ông bà, nhưng Tín thì có í muốn đưa chúng tôi vào Tin Lành. Sau này khi qua Mỹ gặp Tín và các đồng đạo của anh, tôi mới biết các tín hữu Tin Lành sẽ chưa “đẹp đạo” nếu không đưa nhiều người khác đi cùng đường với mình. Nhưng dù khác tín ngưỡng chúng tôi vẫn chơi thân nhau, tất nhiên, đôi khi chúng tôi cũng đi nhà thờ cho anh vui…Nhớ lại ngày gặp Tín ở New York sau gần 20 năm xa cách: tôi đi xe lửa từ Boston, nơi tôi đang học một học phần trong chương trình “doctor of philosophy” về “media literacy education”, lên New York và chúng tôi hẹn gặp ở ga Pennsyvania. Hôm đó là buổi sáng chủ nhật đẹp trời, mùa thu chín mọng với những vòm lá thay màu xanh đỏ tím vàng tuyệt vời…Tín mừng rỡ ôm lấy tôi và chở thẳng đến nhà thờ, nơi anh sẽ làm chủ lễ. Anh lên bục giảng và câu đầu tiên: “Hôm nay tôi xin giới thiệu với qu‎í tín hữu một người bạn thân cùng học thời trung học,vừa từ Boston đến New York sáng nay.” Tôi buộc phải đứng lên và cả nhà thờ cùng vỗ tay.(Sau này tôi mới biết họ tưởng lầm tôi vừa được bảo lãnh sang định cư ở Boston).
Tín và Kim Anh (bà xã) cũng thường về Việt Nam vào những năm đó. Tuy vậy, việc đi lại không được thoải mái như bây giờ, nên Tín cũng hạn chế đi thăm lại anh em, bè bạn cũ. Nhưng anh dường như không quên một ai, nhất là lớp nhất C Phan Chu Trinh năm 68-69. Bây giờ anh không còn nữa. Sự mất mát bạn hữu đầu tiên mà tôi cảm thấy…

Người mới chia tay gần đây nhất có lẽ là Đinh Còn. Anh bịnh không bạn bè, anh mất không ai biết. Sau buổi họp mặt một tuần, tôi đến thăm nhà anh, ở bến xe Miền Đông. Tại sao con người vô tình đến thế? Mình ở cùng thành phố mà không có tin người bạn đã một thời cùng lăn lóc ở trọ, với giấc mơ đại học.
Vợ anh bán cơm để tiếp tục nuôi đứa con trai 34 tuổi bị teo não nằm trên giường đã hơn 30 năm. Chị khoe: Cháu vẫn thông minh, sạch sẽ.Chị kéo tấm chăn phủ trên người cháu:” Chân cháu vẫn rắn chắc thế này…” Giọng tự hào mà nghe thấm nước mắt.
Khi Đinh Còn đi cấp cứu, chị kể, phải mang cháu vào bệnh viện, để vừa chăm chồng vừa coi con-một nách hai tròng. Chị thật vĩ đại.
Tôi thắp hương cho Đinh Còn và khấn cho gia đình anh an lành. Chị nói: Nếu chết đi thì chị không biết đứa con bệnh tật của chị thế nào? Hai em trai của nó không thể chu toàn cho anh…Thôi “cuộc đời cát bụi” mà chị, tôi cố hết sức an ủi chị. Chị nói đang lo hồ sơ thủ tục để xuất cảnh qua Mỹ do có mấy người em ruột bảo lãnh. Chị nói: Qua đó hi vọng thằng con tật nguyền có tiền trợ cấp. chớ ở Việt Nam sống sao nổi. “Mấy ông” này khó tin lắm.Tôi không biết chị có ngầm í cho tôi thuộc trong “mấy ông” đó không? Hình như có , vì chị nói và nhìn tôi với ánh mắt xa lạ.
Tôi cay đắng: Nước Mỹ thật rộng lượng. Ai nghèo khó, bất hạnh, bị đàn áp đều thấy nước Mỹ là bến bờ hi vọng. Phải chăng người phụ nữ cầm ngọn đuốc cháy –Nữ Thần Tự Do- vẫn là lí tưởng của bao người khổ đau trên cuộc đời này?
“Giấc mơ Mỹ” với chị vợ của bạn tôi đây không phải là điều hoang tưởng, càng không phải “luận điệu tuyên truyền”,mà là một giấc mơ có thật.
(Lẽ ra tôi có thể viết them vài kỷ niệm với Đinh Còn ngày còn đại học ở Sài gòn, ở Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần), gần chợ Đũi, ở chung cư Quốc Thanh…nhưng bất ngờ có SMS nhắn tin là một người bạn vừa họp mặt hôm 22 tết, mới bị đột quỵ hôn mê sâu, đó là Phạm Sĩ Ba, học trước tôi một năm, cùng nhất B 2 với Nguyễn Hùng). Hôm họp mặt đó chính Nguyễn Hùng gọi Phạm Sĩ Ba.Không ngờ có thể đó là lần họp mặt cuối của anh, mặc dù, tôi vẫn cầu trời không phải như vậy…
Sài gòn –TP.HCM mồng 5 tết (27/1/2012) Nhâm Thìn

Tháng Hai 3, 2012 at 10:12 sáng 1 Bình luận

Dong tien vo toi!

Đồng tiền vô tội!

Trần Ngọc Châu

Ngân hàng chỉ là tấm gương phản chiếu… khuôn mặt sáng sủa và xấu xí của chính sách.

 

Người Việt Nam ta thường nói về tiền với vẻ không mấy tôn trọng : Tình , Tiền,Tù ,Tội.Thậm chí khi nói giá trị đồng tiền thì cũng đầy mỉa mai , cay đắng “ Có tiền mua tiên cũng được .” Thỉnh thỏang lắm mới có ý tích cực :” Đồng tiền liền khúc ruột ” hay “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn.”

Nhưng ,dù thế nào , tiền chính là một sản phẩm trí tuệ nhất của văn minh nhân lọai.

Trong cơn bão tài chính suốt từ năm 2008 đến nay đã xuất hiện nhiều nhà kinh tế mới. Niall Ferguson (sinh năm 1964), giáo sư kinh tế đại học Harvard đang nổi lên với cuốn “The ascent of money: the financial history of the world” (Dấu nhấn đồng tiền: lịch sử tài chính thế giới),xuất bản năm 2008.

Một trong những lý thuyết chính của Ferguson, là “nghèo đói không phải là hậu quả của những nhà tài chính  bóc lột người nghèo, mà nghèo đói lại là hậu quả của việc thiếu sót những định chế tài chính và ngân hàng, chứ không phải vì sự có mặt của chúng.” Nói nôm nay, ngân hàng vô tội. Đồng tiền vô tội!

 

Ông cho rằng tiền tệ là tinh túy nhất trong quá trình phát triển nhân lọai. Tiền là lòng tin được cụ thể hóa trên giấy hay trên kim lọai, mà không có “lòng tin” đó thì chúng ta chỉ có nghèo nàn đi mà thôi, Ferguson viết. Nhưng, giờ đây, đúng vào mùa đông ảm đạm 2011, bóng tối của sự mất “lòng tin” đang kéo đến. Nó có thể ngã xuống trên chúng ta vào bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu…giữa mũi tên màu đỏ cắm đầu xuống trên bảng điện tử của HOSE.

Và khắp thế giới: Pháp (CAC 40 hơn 6.000 nay dưới 2.800) – Nhật ( Nikkei hơn 14.000 này còn 7.750) – Mỹ (Dow Jones hơn 14.000 nay còn 8.077). Ngày 14/12/2011 thủ tướng Đức Merkel nói: Nein (không) với hoản tiền 600 tỉ Euros gió giải cứu cho khu vục đồng Euro… Với khủng hoảng  này người giàu sẽ lo sợ, người nghèo sẽ khổ hơn và có thể chết đói (theo FAO). Vào những ngày cuối năm,TTK Liên hiệp quốc Ban Ky Moon đã lên tiếng cảnh báo về nạn đói trên thế giới.

 

Theo chuyên viên thế giới từ 20 ngàn đến 30 ngàn tỷ đô la Mỹ về chứng khoán của thế giới đã tiêu ra mây khói …

 

Hệ thống tài chính đang làm hòanh tráng những gì mà con  người có khuynh hướng thích làm cho thái quá, làm giàu thêm cho những người may mắn và làm nghèo đi những người bất hạnh. Theo chiều hướng này, ngân hàng như một tấm gương phản chiếu và “ đó không phải lỗi của tấm gương”. Ferguson viết:” bởi vì tấm gương phản chiếu cả nhược điểm và ưu điểm của chúng ta”

 

 “ Tiền là thượng đế của thời đại chúng ta,” nhà thơ Đức Heinrich Heine đã từng viết năm 1841. Giờ đây câu khẩu hiệu của những nhà marketing tài giỏi phải đổi lại: Tiền là thượng đế (chứ không phải là khách hàng). Cơn bão tài chính đã trả lại “ngôi vua ” cho “đồng tiền xương máu”.

 

Sợ hãi, tham lam và điên loạn- như một thành ngữ của phố Wall- bạn sẽ luôn có chúng khi bạn tham gia vào thị trường. Nếu chỉ có một mình bạn biết chúng đi theo trật tự nào thì khả dĩ bạn có thể kiếm lợi. Nhưng kinh nghiệm cho thấy, trong việc này, bạn sẽ không bao giờ biết một mình cả. Bầy thú dữ sẽ luôn có mặt cùng bạn…

 

Bài học từ “Câu lạc bộ Tân Đại Gia Ngân Hàng ”.

Nhưng ai trong chúng ta sẽ không cảm thấy lạnh trong cơn bão này? Câu hỏi bóng bẫy này có nghĩa đen là: giờ đây là có ai thắng trong khủng hỏang tài chính vừa qua?

Câu trả lời: Có.

Đó là những ngân hàng từng bị chê là thiếu đầu óc mạo hiểm. Họ vẫn âm thầm phát triển với những phương pháp truyền thống. Tất nhiên cũng có một ít may mắn. Giờ đây , họ đã có một Câu lạc bộ gọi là “Tân đại gia ngân hàng” dẫn đầu là HSBC. Trong khi đa số các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác khó khăn, thậm chí sụp đổ, thì những đại gia này vẫn nương theo khủng hỏang mà phát triển mạnh hơn.

 

Câu lạc bộ đại gia ngân hàng mới

 

 

 

 

1

HSBC

Anh

2

JPMorgan

Mỹ

3

Wells Fargo

Mỹ

4

Nomura

Nhật

5

Mitsubishi

Nhật

6

Banco Santander

Tây Ban Nha

7

BNP Paribas

Pháp

8

Bank of America

Mỹ

9

Intesa Sanpaolo

Ý

Nguồn: Newsweek, Bloomberg, MSNBC

Liệu bạn có thể liệt kê một câu lạc bộ như vậy ở Việt Nam? Chúng tôi không dám chắc, nhưng nếu có một câu lạc bộ như vậy thì ngân hàng của bạn nên đăng ký hội viên…vì khách hàng Việt Nam đang dồn niềm tin vào “con rùa” chứ không phải “con thỏ”.

Phương pháp đại bảo thủ:

 

Bạn đọc sẽ thắc mắc: Làm sao mà những ngân hàng trên đây, phần lớn rất nổi tiếng, lại chiến thắng trong cuộc khủng hỏang tiền tệ 100 năm này? Câu trả lời cũng không quá phức tạp: Đó là áp dụng triệt để phương pháp bảo thủ, thậm chí là đại bảo thủ như cách nói  của nhà phân tích tài chính kỳ cựu Mark Durling của thị trường chứng khóan London , về trường hợp chiến thắng của HSBC trong năm nay. Tuy nhiên chúng ta phải hiểu rằng, đối với những ngân hàng lâu đời như HSBC, đó là một chọn lựa,không phải hòan tòan do may mắn.Đó là nguyên tắc kinh doanh của ngân hàng- trên thực tế được coi là ngân hàng trung ương của Hong Kong-ngay từ khi thành lập,hơn 100 năm trước. Ông Thomas Tobin, nguyên tổng giám đốc HSBC Việt Nam có lần đã nói với người viết bài này :” Chúng tôi luôn thận trọng và đó là chìa khóa thành công.” Vào thời kỳ kinh tế nóng, khi mà các ngân hàng khác, đẩy nhanh tăng trưởng lên 100-300% thì HSBC chủ trương phát triển bình quân 5%. Hiên nay tài khỏan tiền gửi và tín dụng nhỏ của HSBC vẫn tăng trưởng mạnh.HSBC đã kiếm một giá trị 30 tỉ USD từ các tài khỏan tiền gửi mua lại của ngân hàng Bradford&Bingley với giá chỉ 1,1 tỉ USD.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng hầu hết các đại gia ngân hàng mới đều là “những người nhát gan,không dám mạo hiểm.” Nhưng đó là sự nhát gan …hiệu quả!

So sánh với hệ thống tài chính Viêt Nam, thì chúng ta không quá mạo hiểm, vì đang còn thời kỳ vừa làm vừa học khi nền kinh tế mới hội nhập, nên một nguy cơ địa chấn là không có.Chính phủ vẫn theo dõi và kiểm sóat được. Nhiều người cho rằng hệ thống ngân hàng nhỏ ở Việt Nam sẽ không qua nổi khủng hỏang hiện nay, nhưng nếu điều đó xảy ra , thì cũng không gây ra nguy hiểm trầm trọng hay hiệu ứng domino. Cầu trời!

Trần Ngọc Châu

Tháng 1/2012

 

Tháng Một 12, 2012 at 10:43 sáng Bình luận về bài viết này

Logistics cua qua quit

 

Logistics của trái quít

Trần Ngọc Châu

 

 

Thomas Friedman –tác giả của cuốn sách lừng danh “Thế giới phẳng”- từng viết trong một cuốn sách khác cũng rất nổi tiếng, và thuộc loại bán chạy nhất ở Mỹ, và đã được dịch sang tiếng Việt, với cái tựa:”Chiếc lexus và cây oliu” rằng “… Tôi sang Hà Nội, ăn tối một mình trong khách sạn Metropole. Việt Nam lúc này đang vào mùa quýt, ở mọi góc đường người ta bày bán những thúng quýt cao ngất, vàng bong, ngon mắt. Sáng nào tôi cũng ăn vài quả. Bữa ăn tối hôm đó, khi người hầu bàn hỏi tôi có dùng món tráng miệng không, tôi bảo chỉ cần một quả quýt. Anh ta đi một lúc rồi quay lại.

“Xin lỗi ông, hết quýt rồi,” anh nói.

“Sao thế,” tôi hơi bực.”Sáng nào ăn sáng tôi cũng thấy dọn cả bàn đầy quýt cơ mà. Thế nào trong bếp chẳng còn vài quả.”

“Xin lỗi,” anh ta lắc đầu. “ Hay ông dùng tạm dưa hấu?”

“Cũng được, cho tôi ít dưa hấu,” Tôi nói.

Năm phút sau người phục vụ quay lại, mang theo một chiếc dĩa có 3 quả quýt.

“ Tôi tìm ra quýt rồi nhưng lại không có dưa hấu.”, anh ta nói. ( Sách đã dẫn trang 33, NXB Khoa học xã hội, Hà nội 2007)

 

Tác giả,một nhà báo Mỹ chu du thiên hạ, và nổi tiếng toàn cầu nhờ “thế giới phẳng” như một tóm lược lịch sử thế giới trong thế kỉ 21,kết luận:” Những gì đón đợi tôi ngoài cửa và trên bàn ăn thường không phải là những gì tôi đã định trước.” Người viết bài này vẫn khao khát làm một điều tra (thậm chí là một luận án tiến sĩ) về “độ chênh giữa những giấc mơ và hiện thực  của con người, với giả định rằng: nguyên nhân chính cho độ chênh đó là lỗi của chuỗi cung ứng hay kĩ thuật logistics.”

Nhưng cho đến nay đề tài đó vẫn nằm trong ngăn kéo vì không đủ thời gian vật chất và tiền,nói chung tại lỗi của …logistics.

Bao nhiêu lỗi logistics của chúng ta đã khiến cho những kế hoạch hay dự tính tốt đẹp bỗng chốc “dổ sông đổ biển.”?

Đầu tháng 11 năm nay, bản thân người viết bài này, hào  hứng nhận được một giấy mời trang trọng tham gia một hội thảo quốc gia (vì tổ chức ngay tại thủ đô Hà Nội, tại một khách sạn quốc tế năm sao, do một tổ chức quốc tế lừng danh tài trợ, và điều hành bởi một hội đoàn thuộc loại lớn nhất và uy thế nhất của Việt Nam). Chỉ mời thôi, nhưng không hề nói thêm là : đi đến bằng phương tiên gì (chắc chắn không thể đi Honda từ Sài gòn ra Hà nội),ở đâu (hình như ban tổ chức mặc định rằng tất cả các diễn giả người Việt Nam đều phải biết nhà khách trung ương nằm ở đâu, nên không có một thông tin nào về địa chỉ này), rồi …sau đó khi được “confirm” nhiều lần mới biết sẽ được đi bằng máy bay (dĩ nhiên!) ra Hà Nội, nhưng từ sân bay Nội bài đến trung tâm thành phố thế nào, có xe đưa đón hay không, thì ban tổ chức cũng không hề nhắc tới.Hầu như những gì mà một người khách mời cần biết về các phương tiện hỗ trợ và làm cho người khách thoải mái, tiện nghi để sẵn sang tham gia sự kiện thì dường như những nhà tổ chức không biết (hay không màng tới).Khi kể chuyện này ra (như một góp í xây dựng) thì một người trong ban tổ chức thẳng thừng: chuyện nhỏ như con thỏ…, chỉ có bác mới đòi hỏi, phải ngầm hiểu chứ!.

Từ một người văn minh, tôi đột nhiên trở thành một người rừng rú, vì “đòi hỏi” những thứ vặt vảnh tầm thường, mà trong đầu tôi chỉ có thể gom vào một chữ …tây là logistics. Than ôi!

Rồi cũng thời gian ấy tôi cũng nhận một giấy mời từ tận bên Nam Mỹ. Sự kiện xảy ra vào tháng 7 năm 2012. Thế nhưng họ đã kèm theo không biết bao nhiêu “chi tiết” như khi nào thì mua vé may bay, làm sao để lấy visa, tiền đi lại để lấy visa ai trả, thậm chí ban tổ chức còn ghi chú: nhớ mang xach tay với các đồ vệ sinh cá nhân để có thể cần khi transit trễ ở các sân bay, vì hành lí đã gửi theo máy bay hết. Khi tôi kể vi dụ này để so sánh, thì một bạn trẻ trong ban tổ chức người Việt nói ngay: Bác cứ vẽ…Họ là ban tổ chức quốc tế mà.

Logistics là một văn hóa toàn cầu,thậm chí mang tính nhân loại, vì nói cho cùng nó phải làm “tối ưu” tất cả mọi nhu cầu của con người để đạt tới cái “tối ưu “ của công việc. Chẳng lẽ cái thoải mái của một người quốc tế khi sử dụng nhà vệ sinh thì khác với một người quốc nội…Thế mà cái khoản nhà vệ sinh này ở quốc nội Việt chúng ta thường quên khuấy trong các …chuỗi cung ứng!

Cho nên một con người thành công như tác giả “Thế giới phẳng” (The world is flat), đành mang cảm giác thất bại khi đi chơi Việt Nam,dù đã ở khách sạn số 1 Hà Nội, có lịch sử 100 năm , với cái tên đại diện cho một phương Tây văn minh: Metropole.Chỉ vì những người phục vụ không hiểu hết rằng “dù là một trái quit, nó cũng phải được “tôn trọng” theo một qui trình logistics, và nó phải được hiểu đúng là trái quit chứ không phải là…dưa hấu.”

Và khi tôi đòi hỏi được biết “địa chỉ của nhà khách trung ương” hay “hay từ sân bay Nội Bài đến Hà nội bằng cái gì?” thì phải hiểu đó là yêu cầu của con người văn minh theo cái văn hóa “thấu hiểu” của logistics, bởi vì “thà mất lòng trước mà được lòng sau” còn hơn để cho công việc trở nên thất bại vì tránh né “những trái quit”.

Trần Ngọc Châu

Tháng 12/2011

 

 

Tháng Một 12, 2012 at 10:33 sáng Bình luận về bài viết này

Ai bao lam bao la suong

Ai bảo làm báo là …sướng!

Trần Ngọc Châu

Quan hệ nhà báo và doanh nghiệp dưới mắt công chúng

Khi tôi ngồi phỏng vấn trên truyền hình thì các đạo diễn cho chạy chữ giới thiệu-“nhà báo”, nói lên cái nghề nghiệp chuyên môn kiếm sống của tôi, còn người bên kia, tức là người đối diện để trả lời các câu hỏi, thì được chạy chữ “chủ tịch hay tổng giám đốc hay CEO” nghĩa là chức danh nhiều hơn là “nghề”. Antoine de Saint-Exupéry, nhà văn Pháp, tác giả của “Hoàng tử bé” (Le petit prince) và “Cõi người ta” (Terre des Hommes), từng nói: “Yêu nhau không phải nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng.” Nhà báo và nhà doanh nghiệp nhìn vào mắt nhau để nói về một hướng, đó là sự thật.

Tôi mong muốn một ngày nào đó các đạo diễn sẽ thay thế một bên là “nhà báo” và bên kia là “nhà kinh doanh” hay “nhà quản lí” hay chung nhất là “nhà làm ăn”.

Chữ “nhà” trong tiếng Việt thật phong phú. Ở đây “nhà” nói lên tính chuyên nghiệp, mà chuyên nghiệp rất cao nữa là khác. Chắc viết tròn chữ phải là “nhà nghề”(mai mốt sẽ sửa lại: Trần ngọc Châu,làm báo nhà nghề.)

Chính vì vậy khi xuất hiện trước công chúng với chữ “Nhà báo”, hình như tôi thường bị đòi hỏi cao hơn mức bình thường. Ví dụ: trong một email gửi cho tôi đề ngày 25/10/2011, một công chúng nặc danh thẳng thừng gọi tôi là “nhà báo cùi bắp” (thật tội nghiệp cho tôi) chỉ vì các câu hỏi mà anh ấy(chị ấy) cho là không “nhà nghề” cho lắm, đại loại như (trích nguyên văn):

  1. Đ/v tổng giám đốc chuỗi siêu thị Maximark Nguyễn Ánh Hồng: ông Châu hỏi bà giám đốc này những câu như:
    – “Siêu thị của chị có bán hàng quá đát (date) không?” Thử hỏi một siêu thị dành cho giới khách hàng từ trung lưu trở lên thì làm sao mà dám bán hàng quá đát, uy tín của hệ thống siêu thị này ở đâu? Và giả sử siêu thị của họ có bán hàng quá đát đi nữa thì không ai ngu để nêu trên truyền hình rằng siêu thị mình có bán hàng quá đát, chẳng khác gì tự thắt cổ mình.
    – Cứ hỏi những chiến lược kinh doanh của bà này như “chị có định mở thêm nhiều chi nhánh ở miền Trung miền Bắc không?” Tại sao cứ phải hỏi những vấn đề nhạy cảm vốn là bí mật kinh doanh của doanh nghiệp, làm bà này có vẻ miễn cưỡng trả lời.
  2. Đ/v bà Cao Ngọc Dung, chủ tịch hội đồng QT kiêm TGĐ Cty vàng bạc Đá Quý PNJ:
     “Từ một thương hiệu cấp quận, PNJ đã xây dựng thành 1 thương hiệu đẳng cấp quốc gia. Cái này không phải chính phủ công nhận mà là công chúng công nhận mới là quan trọng, vậy thì có những bài học nào mà để XD thương hiệu PNJ”. Bà Dung đã trả lời “Nếu mà nói rằng từ một thương hiệu cấp quận lên thương hiệu Q.gia thì cũng không có đúng lắm vì một doanh nghiệp ở 1 vị trí nào đó hoạt động ko nhất thiết phải đóng khung trong khu vực đó…”
  3. Đ/v ông Ngô Việt: ông Châu lại hỏi 1 câu rất trẻ con “ông có xu hướng tuyển dụng nhân viên theo quê hương không, vì tôi thấy như một số giám đốc Đà Nẵng chỉ có thói quen tuyển người Đà Nẵng, vậy ông có chỉ tuyển người Huế không (vì ông là người Huế)”. Ông Ngô Việt trả lời rằng “không, tôi chỉ tuyển tài năng của họ, chỉ tuyển người có khả năng vào làm việc và không quan tâm họ quê ở đâu” Thật là buồn cười, vì thứ nhất mỗi người mỗi tính, mỗi quê khác nhau tính cách khác nhau, hơn nữa ông Châu nói thế chẳng khác gì nói dân Huế của chúng tôi là dân cục bộ địa phương?

 

Đấy làm báo thật là khổ, nhất là lúc đối diện với nhà kinh doanh để đặt các câu hỏi, và càng khổ hơn là làm sao các câu hỏi phải mang tính “đại diện” cho nguyện vọng của công chúng. Tuy vậy, bất luận thế nào,khi giảng dạy cho các sinh viên báo chí, tôi thường khuyến khích các em hỏi, và nhấn mạnh rằng: không có câu hỏi nào là dở . Người Việt thường nói :học hỏi mà. Nhưng chúng ta chỉ học mà ít hỏi.Một giáo sư nước ngoài đến Việt Nam dạy các chương trình về quản trị doanh nghiệp, từng lí giải rằng: tại sao sinh viên Việt Nam ít hỏi vì các em rất sợ hỏi dở hay sai,còn các học sinh ngoại quốc thì từ nhỏ họ được dạy “không sợ sai”,nên họ hỏi hay phát biểu thoải mái.

Ngược với các nhà báo ít hỏi, thì hầu hết các nhà doanh nghiệp mà tôi biết, đều rất thích được trả lời. Tất nhiên là họ chọn cơ hội xuất hiện trước công chúng thật thận trọng.

Từ chị Nguyễn Ánh Hồng, tổng giám đốc Maximart, đến anh Ngô Việt, một Việt kiều Mỹ, tổng giám đốc dự án xử lí rác thành phố HCM, đều cho rằng báo chí hay truyền thông nói chung đã hỗ trợ rất nhiều trong công việc kinh doanh. Chi Cao Thị Ngọc Dung, tổng giám đốc PNJ,nhấn mạnh rằng: nếu không có báo chí thì thương hiệu PNJ sẽ không tạo được uy tín như hiện nay. Trong một xã hội thông tin mở, không thể áp dụng nguyên lí “hữu xạ tự nhiên hương” trong xây dựng thương hiệu. Tất nhiên tiền đề là phải có “hương”, và sức mạnh của truyền thông sẽ đưa “hương” đó bay xa.

Những nhà kinh doanh chuyên nghiệp như họ không cần lẩn tránh bất cứ câu hỏi nào, kể cả những câu hỏi nhạy cảm như “có bán hàng quá đát không và làm sao để không bán hàng quá đát?”, thậm chí là “có bì thư trong các sự kiện do công ty tổ chức không?”. Những câu  hỏi trực diện và mang tính “xung đột” bao giờ cũng hấp dẫn vì tạo cơ hội cho nhà kinh doanh “giải độc” trước công chúng, như câu hỏi: “Anh có tuyển người cùng quê không?”. Vâng, vì đã có tiếng đồn “ưu tiên cho người cùng quê” ở doanh nghiệp đó. Giống như nhiều bạn sinh viên báo chí hỏi chúng tôi trong những buổi đối thoại về cơ hội nghề : Có phải đài FBNC chỉ ưu tiên cho người có giọng Sài gòn? Hay trước đây: Saigon Times Group ưu tiên những người biết tiếng Quảng ? (Ý nói Quảng Nam)?Một cơ hội bằng vàng cho chúng tôi (là người thẩm quyền tại những đơn vị đó) mặc sức “giải độc dư luận”.

Nếu nhà chính trị là khuôn mặt công chúng thì nhà doanh nghiệp và nhà báo cũng vậy. Nhà báo đôi khi còn có trách nhiệm với công chúng cao hơn nhà doanh nghiệp. Một nhà doanh nghiệp có thể đưa “bì thư” mà không vi phạm đạo đức kinh doanh, nhưng nhà báo nhận “bì thư” trong bất cứ trường hợp nào đều được xem là vi phạm đạo đức làm báo.[i]

Vậy ai bảo làm báo là…sướng!

————————————————-

Trần Ngọc Châu

Tháng 12/2011

 

 

 

 


[i] Một điều tra gần đây (từ tháng 10 đến tháng 11/2011)   do chúng tôi thực hiện tại các lớp tu nghiệp báo chí do Hội nhà báo thành phố HCM tổ chức thì có 68% nhà báo có nhận bì thư tại các cuộc họp báo. Và có đến 87% cho rằng đó là bình thường (tiền tàu xe hay tiền ăn trưa.)

Tháng Một 12, 2012 at 10:27 sáng 2 bình luận

PR và Báo chí -Bạn hay thù?

PR và báo chí
Bạn hay thù?
Trần Ngọc Châu

Bình thường các công ty không ưa báo chí, nhưng khi gặp khủng hoảng họ sẽ cần đến sự hỗ trợ của giới truyền thông.

Bạn

Tại cuộc trao đổi hàng tuần giữa cơ quan quản lí báo chí tp.HCM (Ban Tuyên giáo, Sở Thông tin truyền thông) ngày thứ sáu 20/8/2010, ông Trần Trọng Dũng, phó tổng biên tập báo Công An thành phố HCM có đặt vấn đề về “phát ngôn nhân cho vụ khủng hoảng Vinashin.” Thật ra khi Vinashin, tổng công ty đóng tàu lớn nhất Việt Nam, lâm vào khủng hoảng tài chính, chính phủ đã thành lập một ban “đặc nhiệm chống khủng hoảng” (task force) cho công ty này, trong đó bao gồm đại diện Bộ Thông Tin Truyền Thông. Điều đó cho thấy vai trò của phát ngôn nhân cho vụ khủng hoảng không ai khác hơn là “đại diện Bộ Thông Tin Truyền Thông” trong ban đặc nhiệm. Nếu chúng ta nhận thức rằng “chống khủng hoảng” hay “quản trị khủng hoảng” (crisis management) chính là quản trị truyền thông thì vai trò của phát ngôn nhân cho bất kì vụ khủng hoảng nào cũng là vai trò chính. Một thông tin sai hay không chính thức về khủng hoảng có thể làm sụp đổ toàn bộ nỗ lực “tối thiểu hóa những thiệt hại” do khủng hoảng gây ra.

Hai năm qua (đầu năm 2008 đến tháng 6/2010) một trong những từ được nhắc nhiều nhất trên báo chí là từ “khủng hoảng” (crisis).
Và chính trong khủng hoảng lại nổi lên vấn đề : nhà báo là bạn hay thù trong các mối quan hệ truyền thông của các công ty kinh doanh.Các nghiên cứu về giao tiếp khi khủng hoảng thường mô tả giới truyền thông như một định chế cần kiểm soát, bởi lẽ nó có thể ảnh hưởng sâu sắc đến cách hiểu hoặc trải nghiệm một cuộc khủng hoảng của mỗi cá nhân ((Heath & Millar, 2004). Nhà nghiên cứu Evans (1987) còn cho rằng để tránh những sai lệch trong việc truyền tải thông điệp đến công chúng, đại diện của một công ty phải kiểm soát giới truyền thông. Vụ bắt một nhà báo gần đây (13/10/2010) cũng nói lên việc công ty muốn kiểm soát truyền thông, nhưng lại bằng…tiền và cả hai bên (nhà báo và công ty) đều có khả năng vi phạm pháp luật.
Do giới truyền thông đưa tin 24/24, các cuộc khủng hoảng được cập nhật nhanh chóng. Trái với quan điểm của nhiều nhân viên PR (quan hệ công chúng), các cuộc khủng hoảng, dù rất hấp dẫn độc giả, không phải lúc nào cũng bị làm quá lên. “Khi đến hiện trường, phóng viên thường gia nhập đội ngũ cảnh sát, lính cứu hỏa, nhân viên y tế và những ai được huấn luyện và trang bị để ứng phó với khủng hoảng” (Simpson & Cote, 2006, trang 71). Giới truyền thông có mặt để tường thuật sự việc. “Ở giai đoạn đầu của khủng hoảng, người dân muốn được thông tin – ngay lập tức. Họ muốn biết một cách kịp thời và chính xác điều gì đã xảy ra, ở đâu, và các bên liên quan đang ứng phó ra sao.” (Reynolds, 2002, trang 8). Thông thường, giới truyền thông đăng tải những thông tin này, cho dù các bên liên quan có chấp nhận hay không.

Thù
Chính vì vậy mà lãnh đạo của các công ty gặp khủng hoảng thường xem phóng viên như “con chó săn” luôn sẵn sàng vồ lấy họ.
Tháng 6/2009, khi công ty Tân Hiệp Phát rơi vào cuộc khủng hoảng “hương liệu quá hạn”, chính ông Tổng giám đốc công ty này đã bất ngờ thốt lên:”Tại sao báo chí quan tâm làm chi?” (Pháp Luật TP.HCM ngày11/6/2010). Truyền thông trở thành kẻ thù. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng giới lãnh đạo doanh nghiep không nên coi phóng viên là kẻ thù, mà xem đó là những bộ lọc thông tin trước khi nó đến với những người quan tâm.

Do giới truyền thông cung cấp những thông tin có tính định hướng đối với những ai có liên quan, phóng viên trở thành một phần của quá trình ứng phó với khủng hoảng, chứ không phải một bộ lọc mà các thông điệp bị kiểm soát phải đi qua. Ví dụ trong cuộc khủng hoảng của ngân hang ACB tháng 10/2003, các nhà báo đã tham gia vào quá trình giải quyết khủng hoảng một cách tích cực, kể cả tham gia vào các cuộc họp của nhóm giải quyết khủng hoảng mà hạt nhân là thống đốc ngân hàng nhà nước (thời điểm đó là ông Lê Đức Thúy).

Thiết lập quan hệ đối tác
Để giảm thiệt hại, một công ty cần có sự tương tác hiệu quả với giới truyền thông.
Sự kiện sụp các nhịp dẫn cầu Cần Thơ (cây cầu vừa được khánh thành ngày 29/4/2010) năm 2007 gây cái chết thương tâm cho 55 thợ xây cầu, đã được báo chí thông tin và kêu gọi đóng góp đến nỗi nhiều tổ chức từ thiện không tiếp nhận hết đồ cứu trợ; đồng thời một lượng máu hiến tặng đã cao hơn gấp 3 so với bình thường.
Ngành truyền thông đã cung cấp những thông tin cần thiết về tai nạn này, cũng như tình trạng giao thông ở khu vực xung quanh, nhằm giúp những người cứu hộ và dân chúng có cách xử lý thích hợp. Các tờ báo còn hợp tác nhằm đảm bảo các lời cảnh báo và biện pháp ứng phó được tường thuật chính xác, qua đó giúp hạn chế thương vong và giảm thiểu sự hỗn độn. “Bình thường, phóng viên không xen vào việc của nhau…Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp này, hầu hết đều giúp đỡ nhau để đưa thông tin kịp thời nhất”
Vụ khủng hoảng ngân hàng Á Châu ACB năm 2003 cũng là một thí dụ khá điển hình cho vai trò tích cực của truyền thông trong khủng hoảng.
***
Như vậy, nếu các công ty chú ý về PR hay quan hệ với truyền thông thì họ nên tiếp cận theo hướng giới truyền thông là đối tác, là bạn, ngay khi công ty chưa gặp khủng hoảng. Các nhà báo cũng cần PR của các công ty như “nguồn tin tin cậy”, những đối tác thông tin cần thiết, và giữ mối quan hệ đáng mơ ước này như Thomas Friedman, tác giả của cuốn “Thế giới phẳng” từng viết:” “Nếu không nhìn thấy những mối quan hệ thì sẽ không nhìn thấy thế giới. Ước gì tôi có thể hiểu được điều này khi tôi mới bước chân vào nghề báo.” Tất nhiên mối quan hệ phải được xây dựng trên tính chuyên nghiệp của cả hai bên. Nếu không, nó sẽ dẫn tới những “thảm kịch” như mua chuộc từ phía công ty và tống tiền từ phía nhà báo như chúng ta vẫn thấy…

Tháng 10/2010
TNC

Tháng Tư 18, 2011 at 4:59 sáng 2 bình luận

PR và báo chi-Báo chí kinh tế không phải PR

PR và báo chí
  Báo kinh tế không phải để… PR.
Trần Ngọc Châu

Hai mặt của một đồng xu
Một cuộc họp báo hạn chế với vài phóng viên được xem là “phóng viên kinh tế”. Tại sao hạn chế? Có lẽ những người tổ chức cuộc họp báo không muốn nghe nhiều câu hỏi từ nhà báo mà chỉ muốn cung cấp thông tin “giải độc” liên quan đến một vụ án kinh tế nghiêm trọng của một ngân hàng nhà nước và một công ty tư nhân. Thời gian đã phủ một lớp bụi lên sự kiện này, nhưng sẽ là một bài học cho những người yêu thích viết về kinh tế: Hầu hết các phóng viên dự cuộc họp vào năm 2002 này đã bị phê bình hoặc bị kỷ luật, có người đã “giã từ vũ khí”, không viết về kinh tế nữa. Tất nhiên, tiêu cực trong giới nhà báo kinh tế ở đâu cũng có.Vào những năm 20 của thế kỷ trước, nhiều phóng viên của Wall Street Journal đã nhận tiền hối lộ của các nhà đầu tư để viết có lợi cho các cổ phiếu nào đó. Vụ bê bối của nhà báo chứng khoán bị phanh phui tại cuộc điều trần của Quốc hội Mỹ vào năm 1932.
Tuy vậy,đó cũng chỉ là một mặt của đồng xu. Lịch sử báo chí thế giới và báo chí Việt Nam không thể nào viết đủ về các nhà báo chống những tiêu cực liên quan đến kinh tế, trong đó chống tham nhũng luôn đứng hàng đầu. Cách đây mấy năm vụ nhà báo Lan Anh (báo Tuổi Trẻ) viết về tiêu cực trong mua bán thuốc tây cũng là một ví dụ. Từ năm 1902, tờ McClure của Mỹ đã đăng loại bài chống tham nhũng trong chính quyền Mỹ với tựa “ Nỗi ô nhục của các thành phố”, khiến tờ này phải đóng cửa vì bị bao vây tài chính sau 19 số báo.
Báo kinh tế không phải PR
Viết báo kinh tế không phải là viết PR. Vào năm 1914, gia đình tỉ phú Rocketfeller đã thuê nhà báo Ivy Lee làm các chiến dịch “PR”, thay đổi công luận về những người bị chết trong các cuộc biểu tình của công nhân khai thác mỏ ở Colorado. Như vậy, ngay từ những năm đầu thế kỷ 20, báo chí đã bị lôi cuốn vào các chiến dịch PR của các công ty, với mong muốn làm thay đổi công luận theo hướng có lợi cho các công ty.
Thật ra sức lan tỏa của báo chí kinh tế mạnh và rộng hơn thực chất của nền kinh tế.Ví dụ: tăng trưởng GDP Việt Nam là 6,5%, thì đối với báo chí kinh tế nó không đơn thuần là tỉ lệ so sánh giữa năm sau và năm trước… Sức lan tỏa này sẽ tác động trở lại qua các “tầng lọc”: nghiên cứu và chính sách, để rồi tăng thêm giá trị cho nền kinh tế như sự minh bạch và bền vững.
Ma trận lan tỏa của báo chí kinh tế:

Trong hạn chế của bài này, chúng tôi chỉ muốn khẳng định báo chí kinh tế đã có một lịch sử lâu dài, gắn chặt với phát triển của nền kinh tế thị trường. Năm 1568 gia đình Fugger xuất bản một bản tin thông báo cho khách hàng về các tin tức có thể tác động vào các nền kinh tế Âu châu. Các bản tin này được xem là tờ báo kinh tế đầu tiên trong lịch sử báo chí kinh tế phương Tây.
Thiếu một nhật báo kinh tế…đủ mạnh
Chúng tôi không có đủ tài liệu nói riêng về báo chí kinh tế Việt Nam. Nhưng sau 1986, chúng ta chính thức mở ra kỷ nguyên kinh tế thị trường thì báo chí kinh tế Việt Nam bắt đầu viết theo những chuẩn mực mới. Ví dụ chúng ta đã không viết “lấy được” theo kiểu: xuất khẩu …triệu đôla-rúp (một đơn vị tiền tệ làm các nhà báo kinh tế thế giới từng điên đầu). Hay dùng các từ ngữ ác cảm với giới thương mại tư. Từ năm 1991, tại trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam, tờ Thời Báo Kinh tế Sài gòn ra đời, được xem như tuần báo kinh tế đầu tiên của thành phố HCM, sau khi đất nước thống nhất năm 1975. Xét về báo chí kinh tế, chúng ta rất lạc hậu so với thế giới. Những năm 1700 cả báo chí Anh và báo chí các thuộc địa Mỹ bắt đầu đăng thông tin về “tàu đến tàu đi”, với lịch , cảng đến, cảng đi và hàng hóa. Mãi đến năm 1991 (gần 3 thế kỷ sau), Thời Báo Kinh tế Sài gòn mới mở mục “tàu đến, tàu đi” đăng các loại hàng hóa xuất-nhập qua cảng. Nguồn chính thức lấy từ các báo cáo của Hải quan. Mục này là một trong những mục ưa thích của bạn đọc tờ báo, nhưng cũng gặp nhiều rào cản vì tâm lí “cái gì dính đến số liệu đều bí mật.” Hải quan thành phố HCM đã ngưng cung cấp số liệu này một thời gian, sau đó phải nhờ đến sự can thiệp của UBNDTPHCM, nguồn thẩm quyền (cơ quan Hải Quan) mới tiếp tục cung cấp thông tin hữu ích này.
Sau đó nhiều tờ tuần báo kinh tế nối tiếp xuất hiện như: Thời Báo Kinh tế Việt Nam, Đầu tư, Nhịp cầu đầu tư, Doanh nhân Sài gòn…Tuy nhiên, điều đáng tiếc là chúng ta vẫn chưa có một nhật báo kinh tế đủ mạnh để phản ảnh chuyển động kinh tế hàng ngày của một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam. Các chuyên trang kinh tế hay chứng khoán của các nhật báo thời sự không đủ tập trung cho lãnh vực vừa đòi hỏi chuyên môn, vừa phải đáp ứng tính hấp dẫn này.
Nói tóm lại chúng ta cần một diễn đàn thật sự (hay một nguồn đáng tin cậy nói theo thuật ngữ báo chí) về thông tin kinh tế, ở đó trước hết mọi khái niệm về kinh tế phải minh bạch thì mới mong thực tiễn minh bạch được. Báo kinh tế không phải báo PR như nhiều người nghĩ.Theo chúng tôi biết, vài nhật báo đã “bán trang” theo nghĩa đen, để làm PR(thường gọi là “thông tin kinh tế”), là một “hạ chuẩn” về nghề nghiệp.
TNC

[1] Jacob Fugger (1459-1525),  nhà buôn vải người Đức, từ một công ty gia đình phát triển thành công ty cổ phần, và thành lập ngân hàng, đồng thời phát hành bản tin về giá cả, là tiêu biểu của những nhà tư bản đầu tiên. Đọc thêm: www.bizjournalismhistory.org/

[1] Hầu hết các tờ báo kinh tế này đều có ấn bản tiếng Anh, mặc dù nội dung có thay đổi cho phù hợp với người đọc ngoại quốc.

[1] Thật ra trước đây có tờ nhật báo “Con thoi” và sau đó  là “Thương mại”, nhưng “chưa đủ mạnh”, ít nhất về số lượng báo phát hành.

Tháng Tư 17, 2011 at 9:18 sáng Bình luận về bài viết này

PR và Báo chí-Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

thap caroll

PR và báo chí

CSR và báo chí

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp  gọi tắt theo thuật ngữ tiếng Anh là CSR (corporate social responsibility) là một trong những thuộc tính phải có của mô hình kinh doanh hiện đại.Báo chí hiện đại không chỉ cổ vũ mà còn thực hiện nghĩa vụ CSR.

 

Trần  Ngọc Châu

Nghề làm báo là nghề nói lên sự thật vì vậy trách nhiệm xã hội của nhà báo là “chuyện đương nhiên”, xét về cả lí thuyết và thực tiễn. Còn đối với doanh nghiệp thì “trách nhiệm xã hội” thường được coi là “nhiệm í”.Trên thực tế, nhà báo thường coi hoạt động mang tính “trách nhiệm xã hội” của doanh nghiệp như xây nhà tình nghĩa…,cứu trợ nạn nhân thiên tai v.v…là những “sự kiện có giá trị tin tức” nói nôm na là thuộc “chuyện lạ” có thể thu hút quan tâm của công chúng.

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là gì?

Như vậy, có phải doanh nghiệp chỉ thỉnh thoảng làm từ thiện, tặng nhà tình thương, nhà tình nghĩa hay cứu trợ nạn nhân thiên tai? Hay khi làm ăn có hiệu quả mới thể hiện trách nhiệm đó? Hay trách nhiệm đó được “hóa thân” trong tiền thuế mà doanh nghiệp đã đóng?

Không phải vậy-hoàn toàn không phải vậy!

Tổng giám đốc Pepsico Việt Nam đầu tiên là ông Phạm Phú Ngọc Trai có thể nói là một trong những nhà lãnh đạo doanh nghiệp đầu tiên thực hành và quảng bá mạnh mẽ nhất học thuyết CSR  ..  Ông cho biết công ty của ông thực hiện tiêu chí CSR dựa theo học thuyết tháp Caroll ( do giáo sư A.Caroll đại học Georgia đề xướng), gồm 4 mục tiêu phát triển bền vững cho doanh nghiệp. Ông còn là chủ nhiệm của chương trình truyền hình “Doanh nghiệp và xã hội” trên truyền hình kinh tế-tài chính FBNC của HTV.

Mô hình CSR của GS Archie B. Caroll hay “tháp Caroll”:

CRS của nhà báo

Trong thế giới hiện đại, các tổ chức báo chí cũng phải hoạt động như các công ty. Trên thực tế, báo chí tại Việt Nam trong nhiều thập kỉ qua đã thực thi rất hiệu quả những hoạt đông CSR mà thuật ngữ báo chí Việt Nam thường gọi là “hoạt động ngoài mặt báo”.

Nguồn lực của các hoạt động ngoài mặt báo này lớn nhỏ tùy theo độ tín nhiệm của tờ báo hay cơ quan báo chí hơn là nội dung của chương trình.

Bởi vi theo nghiên cứu của chúng tôi thì hầu hết các tờ báo tạm gọi là “lớn” (thường co số lượng phát hành trên 100.000 bản /ngày) đều co những hoạt động ngoài mặt báo, gây hiệu ứng tích cực đối với xã hội, đôi khi còn tích cực hơn cả thông tin trên mặt báo.

    CSR hay “hoạt động ngoài mặt báo”tiêu biểu  
  Tuổi Trẻ Vì ngày mai phát triển Học bổng
  Thanh Niên Duyên dáng Việt Nam Đại nhạc hội từ thiện : gây quỹ học bổng
  Sài gòn Giải phóng Nghĩa tình Trường Sơn Công tác xã hội
  Sài gòn Tiếp Thị Hàng Việt Nam chất lượng cao Giải thưởng và Hội chợ cỗ vũ phong trào « Người Việt dùng hàng Việt »
  Người Lao động Mai vàng Đại nhạc hội từ thiện
  Thời báo kinh tế Sài gòn Quỹ Saigon Times Học bổng
  Saigon Times Saigon Times Blood Donation Hiến máu
  VTV Cầu truyền hình « Vì người nghèo » Quỹ từ thiện, xóa đói  nghèo
  HTV « Ngôi nhà mơ ước » Chương trình truyền hình từ thiện

Có thể kể vai thí dụ: Chương trình “Hàng Việt Nam chất lượng cao” của báo Sài gòn Tiếp Thị, được công chúng biết đến nhiều hơn so với cái tên tờ báo (một khảo sát bỏ túi của chúng tôi thực hiện từ tháng 6/2006-tháng 6/2007 thì kết quả cho thấy tỉ lệ này là 10/7. Cứ 10 người trả lời biết HVNCLC thì chỉ co 7 người biết báo SGTT).Tỉ lệ nhận biết này còn cao hơn đối với chương trình “Duyên dáng Việt Nam” của báo Thanh Niên. Cứ 10 người trả lời biết DDVN thì chỉ co 3 người biết báo Thanh Niên.[i]

CSR của nhà báo và doanh nghiệp có phải là PR?

Ngày càng co nhiều liên kết giữa nhà báo và doanh nghiệp cho hoạt động CSR.

Xét về hệ quả , và hiểu PR theo nghĩa “quan hệ công chúng”, thì các chương trình rõ ràng tạo thêm uy tín của “thương hiệu” của cả hai đối tác: nhà báo và doanh nghiệp.

Tuy vậy, xét về mục tiêu, thì các chương trình không nhắm thẳng đến mục tiêu PR theo nghĩa xây dựng hay quảng bá thương hiệu.Tổng biên tập SGGP Trần Thế Tuyển nói với chúng tôi nhân chuyến đi Pleiku để trao một bệnh xá hợp tác giữa báo và công ty Pepsico:” Không hề co mục tiêu PR cho tờ báo trong chương trình này.Vai trò rõ ràng của báo chí chúng tôi chính là giám sát và cổ động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp mà thôi.”

Nhìn sang Trung quốc-một nước kinh tế chuyển đổi như Việt Nam- thì họ có làm dữ liệu và thông tin CSR trên báo chí. Ví dụ theo” Dữ liệu báo chí Trung Quốc “ năm 2006 thì tin tức về CSR trên các tờ báo chính ở Trung Quốc cao gấp 14, 2 lần so với năm 2000. Và năm 2006 thì tin tức “tiêu cực” về CSR cũng cao hơn nhiều so với 2000 như: lạm dụng công nhân ở công ty Foxcom, làm trứng vịt giả, dư lượng kháng sinh trong cá hồi xuất khẩu v.v…

Tai Việt Nam chúng ta, mới nhất báo chí đã đóng góp quan trọng trong vụ bồi thường của công ty Vedan vì đã hủy diệt nguồn lợi thiên nhiên trên sông Thị Vải.

Tuy vậy, điều quan trọng nhất là phổ biến li thuyết về CSR trong doanh nghiệp và công chúng, thậm chí phải được giảng dạy bắt buộc trong các giáo trình quản trị kinh doanh như các chương trình đào tạo MBA (thạc sĩ quản trị kinh doanh) trên thế giới hiện nay./.

TNC

Doanh nhân nói gì về “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp” (CSR):

Phạm Phú Ngọc Trai, nguyên TGĐ Pepsico Việt Nam: “CSR-Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đó không còn là những hành động thiện nguyện tự phát theo tiếng nói của lương tri hay những đóng góp theo phong trào nữa, mà nó đã là một phần chiến lược không thể tách rời của doanh nghiệp.”  

Diệp Quốc Kế, TGĐ Công ty Glowtec Environment:” Vai trò công ty ngày càng lớn và trách nhiệm đối với xã hội không chỉ là làm công tác xã hội.Đó là chiến lược dài hạn của công ty.”

Cao thị  Ngọc Dung, TGĐ Vàng bạc đá quí Phú Nhuận PNJ: “ Tạo lợi nhuận chỉ là một trong những nghĩa vụ của doanh nghiệp. Nếu duy tri một thương hiệu lớn như PNJ cái khó là làm sao thể hiện các nghĩa vụ khác như môi trường, xây dựng thế hệ lãnh đạo trẻ, tiết kiệm nguồn lực…”

Nguyễn Trịnh Khánh Linh, TGĐ Tổng công ty Đắc Nhân Tâm Dale Carnegie Việt Nam:” Chúng tôi được công nhận là một công ty toàn cầu nên trách nhiệm của chúng tôi mang các chuẩn giá trị toàn cầu như bảo vệ môi trường, văn hóa địa phương.”

Ảnh: Lễ khánh thành bệnh viện Ia Dom, Pleiku, trong chương trình “Nghĩa tình Trường Sơn” do báo SGGP và Pepsico phát động.


[i] Khảo sát này là cục bộ, người trả lời hạn chế trong số 100,thời gian lại không lâu: 1 tháng, trình độ và tuổi tác cũng điều kiện hóa trong các lớp CEO và sinh viên kinh tế, nên độ tin cậy không cao. Mặc dù vậy,nó khả dĩ cho phép sử dụng trong một bài báo mang tính phản ảnh thông tin (nhiều hơn là một báo cáo khoa học).

Tháng Tư 17, 2011 at 9:01 sáng 1 Bình luận

PR và Báo chí- Xây dựng thương hiệu quốc gia

PR và báo chí

 

 Xây dựng thương hiệu quốc gia

Trần Ngọc Châu

 xay dung thuong hieu quoc gia

Trong cuộc hội thảo  về đề tài “Xây dựng thương hiệu quốc gia” (Nation Branding) do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển giáo dục Trí Việt phối hợp với Saigon Media tổ chức ngày 30/6/2010 tại thành phố HCM, bà Tôn Nữ Thị Ninh chủ trì hội thảo,có đặt câu hỏi về vai trò của báo chí Việt Nam trong công cuộc xây dựng thương hiệu quốc gia Việt Nam.

Nhà báo trước khi hành nghề đã là một công dân. Chính vì vậy mặc định ở đây: nghĩa vụ công dân đối với đất nước của nghề làm báo là chuyện không cần bàn cãi. Mặc định tiếp theo của nghề báo là “nghề nói lên sự thật”. Càng nói sự thật bao nhiêu báo chí sẽ càng góp phần vào việc xây dựng thương hiệu quốc gia.Đó cũng là PR của báo chí đối với quốc gia hay nói nôm na là “dân vận của báo chí.”

Báo chí: tác nhân xây dựng “thương hiệu”quốc gia

Một trong những mô hình phát triển đầu tiên của báo chí là tác nhân xây dựng “thương hiệu”quốc gia. Chính phủ Ấn độ đã thành lập và tài trợ cho Quỹ tài sản thương hiệu Ấn độ (India Brand Equity Foundation) mà nhiệm vụ chủ yếu là “giải độc” những tin tức có khả năng xấu đối với uy tín quốc gia. Ông Ajay Khanna, tổng giám đốc của tổ chức này, luôn nói với báo chí “nghề của tôi là nói những tin tốt đẹp về Ấn độ hàng ngày” và theo ông, đó là những phẩm chất lành mạnh sẽ tạo nhiều kết quả vô hình như thu hút khách du lịch hay đầu tư nước ngoài.[i]

Tuy vậy vai trò báo chí không chỉ nói tin tốt mà là nói sự thật. Simon Anholt[ii], nhà tư vấn hàng đầu thế giới (theo báo The Economist) về thương hiệu quốc gia, trong cuốn “Trật tự mới về thương hiệu” (Brand new justice-2003) thì nhấn mạnh vai trò báo chí của mỗi quốc gia là nói đúng về hình ảnh quốc gia đó. Lawrence Chalip, tổng biên tập tạp chí Quản trị thể thao (Sport Management Review), giáo sư đại học Texas (Hoa Kỳ) từng viết:”Môt thương hiệu về nơi chốn, địa phương hay quốc gia chỉ có thể tạo dựng bền vững trên sự thật. Nếu ở đó chỉ có một khách sạn, bạn khong thể “sáng tạo” 5 hay 6 khách sạn chỉ vì mục tiêu tạo dựng hình ảnh hay thương hiệu.”[iii]

Trong chiến lịch Tái xây dựng thương hiệu Nigeria (Rebranding Nigeria), chính phủ Nigeria đã kêu gọi giới truyền thông trong nước đưa nhiều hơn những cái đẹp của quốc gia, ít nhất cũng cân bằng về số lượng với những tin tức về tham nhũng, hối lộ, chiến tranh sắc tộc, tệ nạn…

Nhà báo và nhà nghiên cứu báo chí Arturo Escobar(1995) đã cho rằng các lý thuyết về hiện đại hóa  quốc gia là người biện minh chính cho các quá trình phát triển và cách tiếp cận “ tác nhân xây dựng thương hiệu hay hình ảnh quốc gia ” của giới truyền thông. Cách “tiếp cận hiện đại hóa” này, thật ra, không mới. Nó đã được phát triển mạnh trong thời kỳ đệ nhị thế chiến bởi các học giả như Daniel Lerner( 1958), Lucien Pye(1963), Walter Rostow(1960) và Wilbur Schramm(1964).

Báo chí:Tác nhân đòan kết

Việt Nam có một lịch sử khắc nghiệt với 1000 năm chống ngoại xâm phương Bắc, 100 năm thuộc địa của Pháp và cuộc chiến thống nhất đất nước  hơn 20 năm. Vai trò của báo chí-truyền thông lại nặng hơn khi được đòi hỏi trở thành một lực lượng đòan kết quốc gia chung quanh nhiệm vụ” tái xây dựng thương hiệu Việt Nam”. Chiến tranh cũng làm phân hóa nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội và báo chí sẽ là tác nhân chính hàn gắn những khoảng cách này dưới một lí tưởng chung là “đổi mới và hội nhập.”

Các nhà báo đã giúp vận động những người dân bình thường ủng hộ các đường lối chính trị và chiến lược kinh tế do chính phủ hay các cơ quan phát triển họach định nhân danh họ.Ví dụ các tờ báo thường xuyên đăng tải í kiến độc giả chung quanh các dự thảo luật như luật đất đai, luật thuế thu nhập cá nhân, hay các dự án lớn như dự án đường tàu cao tốc Bắc Nam, dự án xây nhà Quốc Hội…Các nhà báo cũng là những “con chim báo bão” cho những tai họa môi trường ví dụ gần đây báo chí đăng tải về những dự án “kiên cố hóa” trên những đồi thông Đà Lạt:Từng được ngợi ca là “thành phố mộng mơ”, “thành phố trong rừng”, “thành phố ngàn hoa”… một trong những “thiên đường du lịch” của Việt Nam với những rừng thông bạt ngàn xanh ngắt nhưng nay Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) đã không còn là chính mình và “thiên đường” này đang biến dạng thảm hại.” (Báo Người Lao động ngày 26/7/2010).

Sắp tới đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11, báo chí sẽ là diễn đàn rộng rãi để người đọc góp í vào các dự thảo đường lối phát triển đất nước.Khi đó, các nhà chính trị và nhà hoạch định chính sách sẽ phải tham khảo diễn đàn này, vì vậy trách nhiệm của nhà báo càng nặng nề hơn khi họ trở thành tác nhân làm cho í kiến các cá nhân đơn lẻ trong xã hội có khả năng cố kết thành một sức mạnh quốc gia.

Phóng sự điều tra “không tiêu cực”

Hầu hết các tổng biên tập mà chúng tôi có phỏng vấn đều khuyến khích viết các bài báo tích cực về các cá nhân,mà chúng ta thường gọi là” người tốt việc tốt”. Theo í kiến của đa số họ thì những bài báo thuộc loại này không phải chỉ là nêu gương mà còn đóng góp vào sự ổn định xã hội, xây dựng sự hòa đồng giữa các nhóm lợi ích đa dạng,củng cố kinh tế. Nhiều nhà báo Á Châu kỳ cựu (Octama,1989:145;Pudjomartoro,1998:105) cũng từng nhấn mạnh rằng những tin tích cực không lọai ra những phóng sự điều tra về các vấn đề xã hội, và các cuộc khủng hỏang,nhưng ”không giật gân , câu khách”.Theo luận điểm này, chúng ta không nên dùng cụm từ” bài báo chống tiêu cực” mà chỉ nên dừng lại ở thuật ngữ “phóng sự điều tra” mà thôi.Những bài báo hay tin tức như thế sẽ nhấn mạnh đến nguyên nhân dẫn đến vấn đề hay khủng hỏang (ví dụ: vụ tham nhũng tại PMU 18 năm 2005 chẳng hạn, nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế quản lí quỹ viện trợ phát triển) và liệt kê những giải pháp, nhờ vậy người đọc hay công chúng có thể hiểu và hành động một cách xây dựng để vượt qua khủng hỏang, hơn là chủ yếu tấn công vào các cá nhân. “Bức tranh lớn” cũng không kém quan trọng.Ví dụ: một nhà báo có tinh thần xây dựng thương hiệu quốc gia khi viết tin  về vụ bê bối của chủ tịch tỉnh Hà Giang[i] sẽ tránh gây hiểu lầm rằng đó là một vụ bê bối được cả bộ  máy bao che, mà chỉ là một sai lầm cá nhân.

Cựu thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore đã cụ thể hóa phương pháp này bằng tuyên bố rằng:trật tự còn quan trọng hơn dân chủ.Ông cho rằng dân chủ quá trớn sẽ dẫn đến mất trật tự và lộn xộn và đó là “kẻ thù” của phát triển (Lee K.Y.,1992:29). Tuy vậy, một khi đất nước đã phát triển rồi, “kẻ thù” đó không còn nữa, người ta buộc phải đòi hỏi một “thượng tầng kiến trúc” thích hợp hơn, nghĩa là dân chủ nhiều hơn.

Nếu báo chí là tác nhân chính tạo dựng thương hiệu quốc gia thì đến lúc báo chí phải là tấm gương phản ánh được bộ mặt dân chủ, qua í kiến của nhân dân và sự tiếp thu í kiến đó từ các cơ quan lãnh đạo quốc gia. Nếu không thương hiêu quốc gia đã dày công xây dựng cũng sẽ dần bị xói mòn.

T.N.C



[i] VNEXPRESS 25/7/2010

Doanh nhân nói về báo chí và thương hiệu quốc gia:

 

Ông Phạm Phú Ngọc Trai, cố vấn cao cấp PepsiCo Đông Nam Á


“Hình ảnh của quốc gia là cảm nhận tốt hay xấu của quốc gia. Báo chí góp phần không nhỏ vào cảm nhận đó.”

 

Ông Don Lam, tổng giám đốc Quỹ đầu tư Vinacapital:

“Khi chúng tôi kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào Việt Nam, họ thường cần những thông tin có hệ thống về Việt Nam. Đó là thương hiệu quốc gia. Truyền thông là cầu nối chính đưa ra thế giới hình ảnh đó.”

 

Ông Đặng Lê Nguyên Vũ, chủ tịch kiêm Tổng Giám Đốc tập đoàn Trung Nguyên:

“Thao thức của tôi không chỉ là kinh doanh mà còn làm sao tạo dựng một thương hiệu quốc gia Việt Nam hùng mạnh. Giới tinh hoa của Việt Nam sẽ đi đầu trong công cuộc xây dựng thương hiệu quốc gia gồm nhà chính trị, doanh nhân, học giả, trí thức và không thể thiếu giới truyền thông.”

 

Ông Phạm Uyên Nguyên, tổng giám đốc công ty quản lí Quỹ đầu tư Hợp Việt (Synergy Fund):

“ Một thương hiệu quốc gia uy tín phải được nhìn nhận về cách lưu chuyển dòng vốn ra thị trường thế giới. Tôi mơ tới các công ty đa quốc gia của Việt Nam. Báo chí có thể xây dưng thương hiệu quốc gia từ cách tiếp cận toàn cầu đó.”

 

 


[i] http://nation-branding.info/2009/02/25/branding-nigeria/: vui lòng đọc bài: Rebranding Nigeria

[ii] Simon Anholt, giám đốc công ty “Xây dựng thương hiệu địa lí”, một doanh nghiệp tư vấn cho các quốc gia, vùng, hay thành phố về các chiến lược thương hiệu vì mục đích phát triển kinh tế. The Economist mô tả ông là “nhà tư vấn hàng đầu thế giới cho các công ty và chính phủ muốn xây dựng các thương hiệu toàn cầu.”

[iii]  www.utexas.edu/features/2010/04/26/sport_tourism/: bài Wish you were here.

Tháng Tư 16, 2011 at 2:44 sáng 3 bình luận

Bài đăng cũ hơn


Chuyên mục

  • Đánh dấu trang

  • Dòng thông tin